Van Chuong cua BAN

CHÚ Ý : CÁC TRANG ĐỀU CÓ LỒNG NHẠC CỦA VÕ HIẾU NGHĨA. NẾU BẠN CẦN IM LẶNG, MỜI BẠN BẤM NÚT [STOP] TRONG CỬA SỔ  iSpring (PPS-SWF)  CHỨA TRONG  MỖI TRANG 


VĂN CHƯƠNG CA BN

%%%%%%%%%%%%%



** HƯƠNG HỒNG QUẾ - VŨ LƯU XUÂN

** TẬP THƠ ĐOÀN THUẬN

** Tao đàn 01- 3 bài thơ 10-08-11

***** Sơ lược về các địa danh ở saigon  (rất hay) (bấm để xem)   

*** Thông điệp ca nhng người anh

**** Hành trình về phương đông (1-4-8)

** Truyện KIU * NGUYN DU

**** Từ SAIGON đến thành ph H Chí Minh - Gs LÂM THANH LIÊM

** NGƯỜI TRUNG QUC/VIT NAM XU XÍ

1/ SƠN-NGHĨA-ĐIN & XÂM MÌNH

2/ THOẠI NGC HU – Nguyễn Phú Th

3/ NAM PHƯƠNG HOÀNG HU – Nguyễn Phú Th

4/ PHAN THANH GIẢN – Nguyễn Phú Th

5/ ĐÁ HOA CƯƠNG – Võ Kỳ Điền

6/ BÙI HỮU NGHĨA - Nguyễn Phú Th

7/ VUA BÀ "HAI BÀ TRƯNG" - Bs Trần Đi S

8/ CHURCHILL & FLEMING

9/ EINSTEIN- Quote of the day

10/ ÔNG NGOẠI

11/ VÕ TRƯỜNG TOẢN

12/ BÙI THỊ XUÂN

13/ NGUYỄN TRÃI

  

SAIGON

Mình vẫn luôn nhớ câu nói của Pascal "Sum homo, et nihil humanis est ex me".

Tôi là người thì không có gì thuộc con người lại nằm ngoài (sự hiểu biết của) tôi .

Huống hồ tôi là người Saigon chánh gốc, mà lại không biết gì về Saigon sao !.

Giáo sư LÂM THANH LIÊM đã giải đáp giúp mình.

Mình rất cám ơn trang web http://www.daihocsuphamsaigon.org/ đã đăng bài GS Liêm và từ đó Nghĩa đã chép vào trang web này. 

NGƯỜI TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM XẤU XÍ 

(Nếu máy vi tính của bạn không có phần mềm đọc file .PDF thì đọc trực tiếp dưới đây, gồm 2 phần, trái lại bạn có thể đọc một lèo từ 

file  Nguoi Trung quoc xau xi.pdf nằm dưới đó)

Nguoi Trung Quoc xau xi.pdf Nguoi Trung Quoc xau xi.pdf
Size : 1107.021 Kb
Type : pdf

Hành trình về phương động là một nghiên cứu rất hay và rất nên đọc 


%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%

1/ LÊ NGỌC SƠN - VÕ HIẾU NGHĨA - VÕ KỲ ĐIỀN - XÂM MÌNH

%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%

Date: Tue, 21 Dec 2010 02:17:41 -0800
From: vhnghia2000@yahoo.com
Subject: Binh Duong
To: vokydien@hotmail.com

Anh Kỳ Điền thân mến,

Đã được đọc nhiều bài viết của anh trong trang Web DHSP Saigon, hay lắm. Lại biết anh đã cùng Promotion
với mình 1961-1964. Mình ban Lý Hóa nên trục trặc hết một năm thành ra là (1961-1965).

Mình có quen với một người ở Bình Dương, đã lâu lắm rồi khoảng (1956), tên là VTLiễu, nhà là tiệm vàng
ở bờ sông gần chợ, anh có biết không, bây giờ không biết ra sao?

Còn anh NTLục bây giờ ở đâu và ra sao, anh có biết không.

Mình cũng có viết rất nhiều bài thơ, văn, nhạc trong trang Web ĐHSP Saigon, 

anh rảnh mời xem và phê bình nhé. 

VÕ HIẾU NGHĨA

%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%

Anh Hiếu Nghĩa mến,

Tôi rất vui khi nhận được thư anh. Biết anh có thì giờ đọc nhừng bài tôi viết , tôi mừng lắm. 
Như vậy là anh Nghĩa học cùng lớp với Nguyễn Ngọc Long, bạn cùng dạy Hoàng Diệu Sóc Trăng với tôi ,
cùng trọ chung nhà và thân nhau lắm.
Tôi biết VT Liễu rất nhiều và rất nhiều.... Nhưng sau khi nàng lập gia đình với Bác Sĩ NVT thì tôi không còn
biết thêm gì nữa. Ngày tôi rời khỏi đảo Pulau Bidong, thì ngay vào buổi chiều
đó nàng cùng chồng đặt chưn lên đảo. Hiện tại nàng cùng gia đình sống bên Pháp, có 3 con trai.... chỉ biết
có tới đó !  Và lúc nào cũng mong Liễu được hạnh phúc ....(trong các chuyện ngắn của tôi như Chuyện kể
 trên biển đêm, Cây sầu riêng vườn cũ, Những vết chưn chim.... hình ảnh Liễu thấp thóang trong đó) 
Muốn biết về Nguyễn Trí Lục anh nghĩa chịu khó đọc kỹ trang nhà Trịnh Hoài Đức Bình Dương, tụi học
 trò viềt về thầy Lục rất nhiều. Lúc tôi đi chơi qua Mỹ có ý muốn gặp anh Lục nhưng anh lại đi vắng, uổng
 quá, không liên lạc được.
Tôi cũng có đọc vài bài của anh, được lắm, anh Nghĩa có khiếu văn chương đọc rất hấp dẫn, anh em mình
 nên viết thật nhiều bỡi vì chúng ta bây giờ chỉ có viết là niềm vui .... phải không anh Nghĩa.  
Mong được liên lạc thường xuyên và nhan dịp chúc anh Hiếu nghĩa cùng gia đình một mùa Giáng Sinh
thật vui. Canada tôi bây giờ tuyết đầy trời và rất lạnh tôi rất sợ ra ngòai. Hẹn thư sau.  VKĐ


From: Ky Dien Vo <vokydien@hotmail.com>
To:
 vhnghia2000@yahoo.com
Sent:
 Tue, December 21, 2010 4:49:48 AM
Subject:
 RE: Binh Duong. Web Trịnh Hoài Đức

Tôi quên cho anh địa chỉ Trịnh Hòai Đức.  Có rảnh vô đọc để biế tin tức về anh Lục và có thể gặp
thêm một số bạn quen cũ.

http://www.trinhhoaiduc.netfirms.com/

Nếu có gì trở ngại vô không được, cho tôi hay, tôi sẽ chỉ tiếp. VKĐ

%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%

Date: Tue, 21 Dec 2010 07:33:26 -0800

From: vhnghia2000@yahoo.com
Subject: Re: Binh Duong. Web Trịnh Hoài Đức
To: vokydien@hotmail.com

Anh Điền thân mến

Cám ơn anh đã nhanh chóng trả lời thơ của mình.À thì ra trước khi về Bình Dương dạy, anh đã dạy tại Sóc Trăng,
 nhóm bạn tụi này ở đó khá nhiều, thân nhất là Lê Ngọc Sơn, té ra NNgọc Long cũng ở Sóc Trăng, có
Trương Vĩnh Án nữa.

Anh nói biết Liễu rất nhiều..., khiến tôi nghi lắm đấy nhé. Kỳ đó tụi này, tôi và bạn John đi chơi núi Bửu Long,
gặp đám 7 người ở Thủ Dầu Một, sau nhận nhau lả bạn. Vì Liễu cùng họ Võ với mình (và anh nữa), nên tụi này
 nhận làm anh em họ. Từ khi mình về Cần Thơ dạy thì không còn nghe tin tức gì nữa. Người mà anh Điền đã phải
 nhắc tới nhiều lần, ắt không phải bình thường nhé. Tôi vào trang Bình Dương có thấy tên Trà Văn Gởi quen biết
 nữa.

Hôm tuần rồi Chân Diện Mục-Phạm Huy Viên, dân Việt Hán 1962, có đến nhà mình chơi. Nghĩa tôi có trang Web,
 mời anh vào xem chơi, cũng như tại trang Web DHSP SAigon, mình có đủ mục Thơ, PPS-thơ, Văn, Nhạc, PPS...
vui lắm. Thấy anh Điền cũng đóng góp khá nhiều bài hay lắm.

Trang Web của mình : http://www.vohieunghia.com/
email : vhnghia2000@yahoo.com
Hình ảnh : http://picasaweb.google.com/vohieunghia40
Địa chỉ : 83-85 Đường số 3 Cư Xá Đô Thành Phường 4 Quận 3 Th.p. HCM

Có dịp về Saigon, mời gia đình anh chị ghé chơi.
Mình viết đến giờ được 35 quyển sách tin học, xuất bản trong nước. Bạn xem trang web của mình sẽ hiểu rõ mình
 hoàn toàn.
Gặp lại bạn xưa cùng trường vui lắm. Hiện mỗi chúa nhật cuối tháng nhóm cựu sinh viên DHSP Saigon đền
có tụ họp ăn sáng tại nhà hàng, có thầy Trần Văn Tấn cựu Khoa Trường của trường mình đến dự nữa.

Mong sớm nhận được thư bạn

VÕ HIẾU NGHĨA

TB: TÔI GỬI ĐÍNH KÈM VÀI TẤM ẢNH CỦA MÌNH, BẠN BÈ VÀ GS TẤN...

%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%

From: Ky Dien Vo <vokydien@hotmail.com>
To:
 vhnghia2000@yahoo.com
Sent:
 Tue, December 21, 2010 8:05:03 AM
Subject:
 Lê Ngọc Sơn

Anh Nghĩa mến,
Chuyện Võ Thị Liễu gần nửa thế kỷ rồi, khi nhớ khi quên, tình cờ anh nhắc lại khiến tôi bồi hồi... Có lẽ
phải viết thêm vài cuốn truyện dài mới nói hết được.  Tôi mà bày đặt viết văn là do cô Liễu nầy đó....
Tôi và Lê Ngọc Sơn rất thân và cùng ở trọ chung nhà, Lê Ngoc Sơn hiền lành rất dễ mến, bây giờ Lê
Ngọc Sơn ra sao? tôi muốn liên lạc với Sơn, anh Nghĩa có thể giúp được không. Ngoài ra nghe nói anh
NNLong đã mất rồi, sau khi đi học tập về. Trương Vĩnh Án dạy ở Bạc Liêu chớ không phải ST, tôi nghe
Sơn nhắc hoài nhưng chưa có dịp gặp gỡ.
Các cuộc họp mặt anh em đồng nghiệp cũ như vậy ấm áp quá. Bên nầy tụi tôi có Gia Đình Nhà Giáo, mỗi
 kỳ lễ, Tết, gặp gỡ nhau nhắc lại chuyện ngày xưa cũng vui lúc tuổi già...
Trà Văn Gởi và tôi thỉnh thoảng có liên lạc nhau, tôi nễ phục anh ta lắm đó. Gởi vừa bị stroke, may mắn
 sớm kịp đưa vô bịnh viện và đã bình phục rồi
Từ từ tôi sẽ vô Web của anh Nghĩa, coi các bài vết cho hết, tuy đã coi hình trong Picasa rồi, thấy gia
đình  ấm áp hạnh phúc tôi mừng cho anh Nghĩa. Tình thân VKĐ


Date: Tue, 21 Dec 2010 19:06:06 -0800
From: vhnghia2000@yahoo.com
Subject: Re: Lê Ngọc Sơn
To: vokydien@hotmail.com

Anh Điền thân mến,

Cô Liễu nhà ta ảnh hưởng sâu đậm đến anh như vậy, chắc trái tim anh cũng không phải bị "bồi hồi" rung động
nhẹ nhàng đâu nhỉ.

Té ra anh em mình cũng có chỗ tương đắc, cùng thương mến một người bạn chí thân là Lê Ngọc Sơn. Sơn cùng
 học chung lớp, về sau chuyển từ Sóc trăng về dạy với mình ở Cần thơ. Anh ấy dạy ở trường nữ Đoàn Thị Điểm,
mình dạy ở Phan Thanh Giản, mình cũng đã mời Sơn cùng qua dạy Tư Thục Tân Văn của mình, chia đôi số lớp
dạy và giờ dạy. Loạn lạc, anh về Saigon sớm hơn mình 2 tháng (tháng 9/1974). Anh ta rất hiền, đến nỗi khi
chuyển qua trường Trưng Vương dạy, anh phải nhờ mình đi theo chung để trình giấy thuyên chuyển lên Hiệu
trưởng.

Mình thương Sơn lắm, chỉ riêng với anh mình mới kể chuyện 2 đứa rủ nhau đi vượt biên. Năm đó là 1980, sau khi
 mình đã đi 4 lần, một lần ở tù, nhưng vẫn không thành công. Trong lúc đó thì Trương Vĩnh Án lại tổ chức vượt
biên, thu mỗi đứa mình 2 chỉ vàng đặt cọc. Sơn lại đóng luôn dùm mình. Lúc đó số tiền này rất lớn. Thế rồi TVA
đi mãi không về. Mình với Sơn mới đến nhà Án không gặp, lại đến nhà Bá (Bá cũng dạy ST với Sơn đó, được gọi
tên nhóm 3 người là Lương-Sơn-Bá đó, chắc anh cũng biết Bá chứ), Bá lại là em rể của Án, nhắn tin, cũng không
 được.

Thế rồi, tin sấm sét đánh ngang tai, Sơn bị bịnh và chết bất ngờ. Hôm đưa đám bà Hiệu trưởng bảo đưa đám xe
tang của Sơn từ nhà ở Lam Sơn Phú Nhuận, ngược lên Nguyễn Bĩnh Khiêm quận I để Sơn được nhìn trường
Trưng Vương lần cuối và cũng để các học sinh trường chào tiển biệt người Thầy. Cảm động lắm, Phước ạ.

Sơn là vậy đó.

Mong thư bạn.

VÕ HIẾU NGHĨA


----- Forwarded Message ----
From:
 Ky Dien Vo <vokydien@hotmail.com>
To:
 vhnghia2000@yahoo.com
Sent:
 Wed, December 22, 2010 5:48:52 AM
Subject:
 RE: Lê Ngọc Sơn

Anh Nghiã mến, 

Đọc tin Sơn mất, tôi đã khóc anh Nghĩa ơi, tôi rất thương Sơn. Sơn là người bạn rất tốt. Tôi có đến nhà
Sơn ăn cơm một lần trước 1975, mẹ Sơn người Huế, hiền hậu có một người anh và một cô em làm ở Ngân
 Hàng. Vừa mua được một cái nhà lớn giá rẻ, do người bỏ xứ đi...

Thời gian tôi ở ST, có 3 người bạn thân: Nguỹen Hiền Tâm cùng khóa VH với tôi, Nguyễn Ngọc Long và
Lê Ngọc Sơn. Tụi tôi chơi với nhau thân tình như ruột thịt. Mỗi lần nhìn Long và Sơn tôi đều lo cho hai
bạn, cả hai đều ốm yếu, Long khi đi thì hai bước không vững, riêng Sơn thì được mặt mày vuông vức,
mắt sáng môi hồng, nhưng bụng ốm nhom không đầy, ngực lép và mông đít tong teo, tôi biết trước là hai
bạn mình số sống không được lâu. Tôi cũng đã nghe Long mất vì bịnh sau khi học tập về... Từ từ các
nguời thân sắp hàng mà đi.  Bên nầy tôi ít đi đám cưới mà thường đi dự đám tang, mỗi lần về, thường
buồn lo mất ngủ.  Chuyện mới thì khi quên khi nhớ, còn chuyện cũ thì nhớ như in, không sót một chi tiết
 nào.  Còn Nguyễn Hiền Tâm da đen thui, tướng tá bần cố nông vậy mà bầy giờ vẫn tiếp tục nhậu dài dài...
mừng cho bạn Tâm được vui lâu. 
Mỗi người đều có số phận, nói sao cho hết.

Buồn quá, anh Nghĩa ơi!. Nhưng buồn Long và Sơn một cách còn Võ Thị Liễu thì khác. 
Tôi dự định khi nào rảnh ra chợ, vào tiệm xâm vào hai cánh tay, mỗi bên các chữ "Hận đời đen bạc" và
"Xa quê hương nhớ cố nhân" Anh Nghĩa thấy sao, được không, nếu anh gật đầu đồng ý, tôi sẽ thực hiện
ngay...  VKĐ


From:

Nghia VO HIEU <vhnghia2000@yahoo.com> 

View Contact

To:

ThanhHuong <thithanhhuong@gmail.com>


Bonjour Thanh Hương,

Nghĩa gửi Forward các bức thư này để cám ơn trang Web DHSP Saigon của TH, nhờ nó mà các bạn cũ lại được
 biết tin nhau, gắn bó lại với nhau.

Đến nỗi anh Kỳ Điền phải đợi mình đồng ý thì anh ấy mới xâm lên cả 2 cánh tay, một bên là "Hận đời đen bạc",
 một bên là "Xa quê hương nhớ cố nhân".

TH chắc khó mà hiểu nổi các ông bạn già, gần đất xa trời này, như anh Điền nói "Bên nầy tôi ít
đi đám cưới mà thường đi dự đám tang, mỗi lần về, thường buồn lo mất ngủ."

Mình có nói quá lời gì thì TH nhớ bỏ qua cho nhé. Bạn bè gì mà cứ cách vài hôm là lại phải
tiển biệt nhau.

À vấn đề chủ yếu là muốn nhờ TH góp ý cho nhé. Bên trời tây, việc xâm mình là tốt hay
 xấu, TH có đồng ý cho anh Điền xâm hay không?

TH sớm email cho biết ý kiến nhé. Mình trông chờ tin của TH đó. 

VÕ HIẾU NGHĨA
%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%


From: thanh huong nguyen <thithanhhuong@gmail.com>
To:
 Nghia VO HIEU <vhnghia2000@yahoo.com>; Ky Dien Vo <vokydien@hotmail.com>
Sent:
 Thu, December 23, 2010 2:45:41 PM
Subject:
 Re: Fw: Lê Ngọc Sơn

   Bonjour anh Nghĩa & anh Điền,

   Em rất mừng khi thấy các anh đã tìm lại được nhau sau mấy chục năm xa cách. Em chia vui với hai
anh nha.
Em có quen một chị tên Liễu ở đây và chồng cũng là Bs, hai người đã divorcé lâu rồi, chị Liễu khoảng
62 hay 63  tuổi gì đó, có người yêu hồi xưa học ở Pétrus Ký, không biết có tomber vô một trong hai anh
 không? nếu đúng thì cho em hay, em sẽ mettre en contact hai người.

Em nghĩ chuyện xâm tay chắc là anh Điền nói dỡn cho vui chứ cái chuyện "cải lương" đó là hồi xưa xửa
mấy anh trẻ hay làm chứ bây giờ anh Điền mà xách cái tay đi xâm thì sẽ "không giống ai hết cả " phải
không ạ?

Anh Nghĩa có vô site coi cái pub em lam cho cuon sách của anh chưa? có ok không ạ?

Mai là Noël rồi, em xin chúc hai anh Joyeux Noël

Kính mến

thanh huong

TB: Xem ra anh Điền thật là sentimental quá phải không? Anh ấy đã khóc và mình rất tiếc
 là cũng giống như vậy thôi.  
  

Re: Fw: Lê Ngọc Sơn

From:

thanh huong nguyen <thithanhhuong@gmail.com>  

To:

Nghia VO HIEU <vhnghia2000@yahoo.com>; DIEN Vo Ky <vokydien@hotmail.com>



    Kình thưa hai anh Nghĩa+Điền,

   Em đề nghị anh Điền hay anh Nghĩa viết chuyện của anh LNS thành một truyện ngắn hay đoản văn
rồi cho em xin để em post lên site ĐHSP vào phần "Viết về trường xưa " hoặc vào phần Văn (nếu là bài
khá dài) chứ nếu để nguyên dưới hình thức các email  như vậy thì em chỉ có thể post vào Forum mà thôi
 nhưng Diễn đàn thì các anh chị lớn tuổi rất ít ai vào nên sẽ không xem được, uổng lắm ạ.

Anh Điền cho em xin thêm bài của anh với nha, lâu quá em không có bài mới của anh đến nơi.

Kính mến


huong

2010/12/24 Nghia VO HIEU <vhnghia2000@yahoo.com>


THANH HƯƠNG & KỲ ĐIỀN MẾN

Vừa mới SEND xong bức thư về xâm mình cho anh Điền và Thanh Hương thì lại nhận được thư của
TH (đúng vậy đó, chỉ trong tic-tắc trước sau thôi), Cô Liễu này nếu có đúng chăng nữa, cũng dành cho
anh Điền mà thôi. TH xem có mục nào thích hợp thì nhét câu chuyện của Lê Ngọc Sơn vào đó cho đủ
vui-buồn nhé.

Nghĩa đã xem trang Web DHSP Saigon rồi, thấy đủ hết. Cảm động lắm, nhiều lắm.

VÕ HIẾU NGHĨA

 %%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%

Xam minh

From:

Nghia VO HIEU <vhnghia2000@yahoo.com> 

To:

DIEN Vo Ky <vokydien@hotmail.com>


Anh Điền mến,

Anh hỏi ý kiến mình về chuyện xâm mình trên 2 cánh tay, một bên là "Hận đời đen bạc", mà mình thấy anh đời
 anh màu hồng quá trời, còn đen và bạc chỗ nào đâu. Anh ở Canada, suốt đời mình mơ ước còn chưa được nữa
là, còn quên chưa hỏi anh là gia đình ra sao, có mấy cháu, bao nhiêu tuổi đã làm gì? Nhưng chắc chắn là màu
hồng, mà hồng tươi sáng nữa đấy. Đó là chưa kể anh đã có những đứa con tinh thần đáng quí, những tác phẩm
của anh đó. Có đen bạc chăng cũng chỉ vì anh vương vấn tới cô Liễu nào đó mà thôi, có phải không?.

Hồi nào tới giờ mình chưa hề nghĩ đến "xâm mình", anh hỏi tôi, khiến tôi phải chạy vào Internet, lôi ra 2 ý sau đây :

Ý kiến của một thợ xâm mình


LÀ ĐÀN ÔNG, PHẢI CÓ BẢN LĨNH. HÌNH XĂM THỂ HIỆN BẢN LĨNH VÀ CHÍ KHÍ CỦA ĐẤNG MÀY RÂU.


XĂM HÌNH KHÔNG PHẢI LÀ GIANG HỒ, PHÔ TRƯƠNG SỰ BẤT HẢO CỦA BẢN THÂN. XĂM HÌNH LÀ MỘT NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN
CÁI TÔI MỘT CÁCH ĐÚNG NGHĨA NHẤT. HÌNH XĂM ĐÃ CÓ MỘT LỊCH SỬ DÀI TIẾN LÊN CÙNG NHÂN LOẠI. Ở CÁC BỘ LẠC DA ĐỎ,
 CHỈ CÓ NHỮNG CHIẾN BINH THIỆN CHIẾN MỚI CHẠM KHÁC NHỮNG HOA VĂN THỂ HIỆN SỨC MẠNH CỦA Ý CHÍ VÀ CẦU MONG
 SỰ YẾM TRỢ CỦA THẦN LINH.

Ở NHẬT BẢN, HÌNH XĂM ĐƯỢC BIẾT ĐẾN NHƯ MỘT SỰ KÍNH NỂ VỀ QUYỀN LỰC, NHỮNG NGƯỜI XĂM MÌNH LÀ NHỮNG NGHỆ
 NHÂN ĐÍCH THỰC. MỘT CÔ GÁI YẾU ĐUỐI ĐỂ THOÁT KHỎI SỐ PHẬN BỊ CHÀ ĐẠP KHINH RẺ, ĐÃ CHỊU ĐỰNG HƠN 100 GIỜ
ĐAU ĐƠN ĐỂ XĂM KÍN CƠ THỂ, CHỈ ĐỂ ĐỔI LẠI SỰ KÍNH TRỌNG CỦA NHỮNG TẦNG LỚP THẾ LỰC TRONG THỜI ĐẠI LÚC ẤY
( TIỂU THUYẾT CÓ THẬT " ÁNH TRĂNG YAKURA").

ĐỐI VỚI VIỆT NAM CHÚNG TA, HIỆN NAY CÒN TỒN TẠI ĐỊNH KIẾN HÌNH XĂM CHỈ DÀNH CHO GIỚI HẠ LƯU HAY NÓI CÁCH KHÁC,
CHỈ CÓ NHỮNG TAY " ANH, CHỊ" MỚI XĂM RỒNG, XĂM RẮN, PHÔ BÀY SỰ LƯU MANH, DU CÔN, ĐỂ DỄ BỀ LÀM ĂN, BẮT NẠT KẺ
KHÁC. CHÚNG TA LÀ THẾ HỆ MỚI, HÃY XÓA BỎ ĐỊNH KIẾN CŨ XƯA ĐÓ, HÃY SỐNG ĐÚNG VỚI SỰ KHAO KHÁT CỦA BẢN THÂN.
CHÚNG TA VẪN CÓ THỂ LÀ CHÍNH MÌNH VỚI MỘT HÌNH XĂM ĐẶC BIỆT, CÁ TÍNH TRÊN CƠ THỂ. NÓ LÀ ĐIỂM MẠNH, CŨNG NHƯ
SỰ GHI KHẮC VỀ BẢN THÂN MỖI NGƯỜI. BẠN HÃY NHỚ RẰNG, HÌNH XĂM KHÔNG LÀM CHÚNG TA XẤU ĐI, CŨNG KHÔNG LÀM
CHÚNG TA MẠNH LÊN, HOẶC CO BẤT CỨ TÁC ĐỘNG GÌ LÊN SÔ PHẬN BẢN THÂN, NGƯỜI QUYẾT ĐỊNH CHO HOÀN CẢNH CŨNG
 NHƯ CUỘC SỐNG PHẢI LÀ CHÍNH CHÚNG TA. VÌ VẬY HÃY ĐỔI CÁCH NHÌN KHÁC VỀ HÌNH XĂM.

BẢN THÂN TÔI CŨNG LÀ MỘT NGƯỜI " NGHIỆN" XĂM MÌNH. TÔI YÊU NHỮNG TÁC PHẨM MỀM MẠI, CÁ TÍNH TRÊN THỰC THỂ
SỐNG. MỖI KHI HOÀN THÀNH MỘT HÌNH XĂM NGHỆ THUẬT CHO KHÁCH HÀNG XONG, TÔI CẢM THẤY NÓ KHÔNG CÒN LÀ HÌNH
 VẼ PHÁC THẢO VÔ TRI TRÊN GIẤY NỮA, NÓ CŨNG PHẬP PHỒNG NHỊP SỐNG VÀ CĂNG ĐẦY LINH HỒN CỦA NGƯỜI ĐANG SỞ
HỮU NÓ. DÙ KHÔNG DÁM VỖ NGỰC TỰ XƯNG MÌNH LÀ MỘT NGƯỜI "NGHỆ SỸ" ĐIÊU LUYỆN, NHƯNG TÔI CŨNG TỰ TIN
 KHẲNG ĐỊNH RẰNG, TÔI LUÔN CỐ GẮNG TẠO NÊN NHỮNG TÁC PHẨM "SỐNG" CHO RIÊNG MỖI KHÁCH HÀNG.

HÃY TỰ TIN LÊN MỌI NGƯỜI NHÉ, CUỘC SỐNG LÀ CỦA CHÚNG TA, HÃY NẮM BẮT NÓ.....


Và một ý kiến khác, hay đúng hơn là một kiệt tác văn chương về xâm mình của nghệ nhân người Nhật :


Tanizaki Jun'ichiro (1886-1964) là người kể chuyện có duyên nhất trong số những nhà văn Nhật Bản
tiền chiến. Ông có một lối hành văn diễm lệ, nội dung các tác phẩm phần nhiều khai thác cảnh sống đồi
trụy của xã hội cũ đang suy tàn và địa ngục của đời sống nội tâm. Sở trường về tiểu thuyết lịch sử và
tiểu thuyết phong tục. Tuy nhiên vì trốn tránh thực tại và thiếu tinh thần phê phán xã hội, văn chương
của ông chỉ là một thứ đồ chơi giữa khi chủ nghĩa phát xít đang hồi toàn thịnh. Tác phẩm của ông đã được
dịch ra nhiều thứ tiếng.


° °Chuyện xảy ra hồi thiên hạ còn giữ được cái đức "Ngu" đáng quí, thuở mọi người không biết kèn cựa
để tranh sống như bây giờ. Cuộc đời lúc đó thật nhàn tản, khuôn mặt của các công tử và các cậu ấm còn
chưa vương lấy một đám mây tư lự, tiếng cười của những nàng hầu trong phủ đệ và đám gái buôn hương
 tưởng như không biết dứt, cái nghề uốn ba tấc lưỡi của mấy chú hầu trà và kép diễu hãy còn được trọng
 vọng.
Bản tuồng hát và tiểu thuyết kiếm hiệp có phụ bản bằng tranh đương thời như Nữ Sadakyuro, Nữ Jiraiya
hay Nữ Narukami đều cho thấy người đẹp là kẻ mạnh, người không nhan sắc là kẻ yếu. Không ai 

 không ra sức làm đẹp, thậm chí họ đã xâm những bức họa lên cả cái thân thể trời cho. Vào thời đó, 
trên da thịt người ta là cả một cuộc khiêu vũ của một tập hợp mầu sắc và đường nét hoặc đậm đà hoặc
rực rỡ. Khách lui tới những xóm ăn chơi chỉ chịu lên kiệu của những tên phu có hình xâm đẹp. Gái thanh
lâu ở Yoshihara hay Tatsumi mê mẩn mấy anh có bức họa nổi thật khéo trên người. Ðừng nói chi đến
bọn máu mê hay lính chữa lửa, từ thương nhân đến hàng vũ sĩ, ai ai cũng thích xâm mình. Ðôi khi,
 trong các kỳ họp của hội xâm mình ở Ryogoku, những người dự hội vẫn lấy tay vỗ lên chỗ xâm của bạn,
khi thì trầm trồ về một chỗ chạm trổ đắc ý, khi thì phê bình vài điểm thiếu sót.
Dạo đó có một thợ xâm
mình có hoa tay tên gọi Seikichi. Tài của y không thua gì những bậc sư trong nghề kể cả Charibun ở 
Asakusa, Yatsuhei miệt Matsushimacho hay Konkonjirọ Dưới đường kim Seikichi, da thịt của hàng chục
người thoắt đã trải ra như bức gấm. Trong khi Darumakin có tiếng về lối xâm mình kiểu trang trí,
Karakusa Conta được đời xem là tay kỳ tài về lối xâm son thì Seikichi nổi danh vì những mẫu hình kỳ
quái và những đường xâm kiều diễm của y. Seikichi trước kia có chuộng họa phái Toyokuni Kunisada và
đã sinh sống bằng nghề vẽ tranh Ukiyoe (2), nên ngày nay tuy rơi xuống hàng thợ xâm mình, y vẫn giữ
được cái lương tâm và cái nhậy cảm của người họa sĩ. Y không bao giờ chịu đặt cây kim xâm lên một làn
da, một thân hình không có sức thu hút y, nhiều lúc, khách tuy đã được y thuận xâm cho, ngoài việc
 vâng theo một mẫu họa và một món tiền lễ nào đó tùy hứng y, còn phải chịu sự đau đớn của đầu mũi kim
xâm, một sự đau đớn kéo dài đến một, hai tháng.

Trong lòng người thợ xâm hình trẻ tuổi này, từ lâu chôn giấu một khoái cảm và một khát vọng không
ai biết. Khi đường kim của y gây ra những vết phồng trên da và làm ứa những giọt máu đỏ tươi, hầu hết
những khách hàng, đàn ông chăng nữa đều rên rỉ vì không chịu nổi sự đau đớn. Hễ khách càng rên rỉ bao
nhiêu độ khoái cảm khó tả của y lại tăng lên bấy nhiêu. Seikichi đặc biệt thích xâm hình kiểu trang trí và
 xâm son vì đó là những lối xâm gây đau đớn nhiều nhất. Khách, sau khi đã chịu mỗi ngày trung bình
năm, sáu trăm mũi kim, còn phải tắm nước nóng cho màu ăn nước, đều ngã qua hôn mê trước mắt
Seikichi một hồi lâu vẫn không lê mình đi được nửa bước.

Ngay trước cảnh tượng thảm thương như vậy mắt của y vẫn ném những tia nhìn lạnh lùng.

"- Cha chả, coi bộ đau đó chớ hả ?" Y vừa hỏi vừa cười thích thú. Gặp mấy người khách yếu chịu đau,
tréo miệng nghiến răng, rên hừ hừ như sắp chết, y bảo :

"-Anh người vùng Edo (3) dân gan góc mà. Rán nhịn đừng có rên. Ðường kim của Seikichi này đau số
một đó ! " Nói xong, y nhìn nét mặt đầm đìa nước mắt của người khách, tiếp tục xâm bất kể. Còn gặp
người can đảm, rán sức chịu đựng không nhíu cả lông mày, thì y dặn:

" - Hừm ! Anh tướng vậy mà cũng chịu đựng giỏi. Nhưng coi, bắt đầu từ giờ mới thấm đau, tài thánh
cũng không chịu nổi đấy".

Rồi y cười, nhe hàm răng trắng bóc. Khát vọng bình sinh của y là tìm cho được một người con gái cả làn
da thật óng mượt để đem hết tâm hồn và tài hoa của mình mà xâm một bức. Một người con gái như vậy
đòi hỏi rất nhiều điều kiện về tư chất cũng như về dung mạo. Nếu nàng ta chỉ có một khuôn mặt đẹp hay
một làn da mượt mà thì vẫn chưa thỏa mãn những đòi hỏi của y. Seikichi đi dò la trong những xóm vui
các cô gái có tiếng đẹp nức Edo, nhưng vẫn không hề tìm nổi một ai như ý mong đợi. Ba năm đằng đẵng
nuôi trong lòng hình ảnh người-chưa-bao-giờ-gặp đó một cách hoài công, y vẫn kiên trì không từ bỏ ước
mơ của mình.

Ðúng vào một chiều mùa hạ của năm thứ tư tìm kiếm, lúc đi qua tiệm ăn Hirasei trong khu phố
*censored*agawa, Seikichi bất chợt để ý thấy một bàn chân đàn bà trắng nuột để trần buông thõng sau
bức mành mành của chiếc kiệu đợi ngoài sân. Dưới cặp mắt tinh tế của Seikichi, một bàn chân người vẫn
có năng lực diễn tả như một khuôn mặt. Và bàn chân người con gái hôm ấy đối với y là một chất ngọc quí
vì nó đẹp từ hàng thứ ngón chân xếp đều đặn, từ mầu sắc của mấy chiếc móng chẳng thua gì vỏ ốc hồng
nhạt mà người ta bắt được trên bờ biển của những hòn đảo trong tranh, từ gót chân đầy đặn, từ làn da
 gan chân mầu mỡ như được gội mát bằng thứ nước trong đổ ra từ kẽ đá. Bàn chân này phải no tròn bằng
huyết tươi của lũ đàn ông, là bàn chân dẫm lên trên bao xác tình si. Người đàn bà có bàn chân này là kẻ
xưa nay Seikichi chờ đợi.

Ðó là người đàn bà nổi bật nhất trong đám đàn bà. Y cố nén nhịp tim hồi hộp đuổi theo chiếc kiệu để
cố thấy mặt nàng, nhưng được vài khu phố thì mất dấu. Tấm lòng khát khao của người thợ xâm mình
biến thành một thứ tình yêu mãnh liệt. Năm đó rồi tàn, và một buổi sáng khi mùa xuân thứ năm đã già
nửa, trong lúc Seikichi - miệng nhay một cây tăm, ngắm mấy chậu vạn niên thanh đặt bên hàng hiên bằng
 những lóng trúc già trong sân ngôi nhà trọ ở phố Kaga trong khu *censored*ugawa thì cánh cửa gỗ sau
 sân chợt động như có ai tới thăm. Qua hàng dậu thấp, y thấy một cô gái lạ mặt. Ðó là cô gái đưa tin của
một nàng ca kỹ ở xóm Tatsumi chỗ quen biết với Seikichi. "- Cô em sai đưa cái áo Haori này đến cho thầy,
 kính nhờ thầy vẽ giùm cho mẫu hình nền trong của áo..."

Nói xong, nàng tháo cái tay nải vàng nghệ, lấy ra chiếc áo Haori đàn bà bọc trong tấm giấy có họa hình
kép hát Iwai Tokaju, và một phong thư. Nội dung bức thư ngoài khẩn khoản chuyện cái áo, nàng ta còn
 bảo cô nhỏ đưa thư này nay mai cũng trở thành đàn em của mình, bắt đầu nghiệp cầm ca ở các trà đình
 kinh đô, xin vì mình mà tìm cách nâng đỡ cô em đó.

" - Ta thiệt chịu không nhớ mặt cô, có phải cô mới đến đằng Tatsumi dạo sau này không ?"

Vừa hỏi, Seikichi vừa chăm chắm nhìn cô gái. Cô ta mới mười sáu mười bẩy là cùng mà đã có cái vẻ đĩnh
đạc già dặn thật lạ lùng của một kẻ đã sống lâu năm trong làng hương phấn, một tay bóp nát bao nhiêu
 trái tim đàn ông. Dáng dấp của nàng như được chung đúc từ vô số giấc mộng của bao đời trai thanh gái
 lịch đã đi qua từ hàng chục năm nay trong cái kinh thành tụ tập tất cả tiền tài và tội lỗi của nước này.

" - Hồi tháng sáu năm ngoái, có phải cô em đã lên kiệu ở trước tiệm Hirasei không ? "

Seikichi bảo cô gái ngồi xuống bên hiên và hỏi để có thể ngắm kỹ càng đôi chân trần của cô đặt trên đôi
guốc gỗ quai rơm.

" - Thưa vâng, dạo ấy thầy em hãy còn sinh tiền nên đôi lúc em cũng có dịp đến đằng đó ..."

Nàng cười chúm chím vì câu hỏi kỳ quái, vừa đáp.

" - Ta đợi cô em năm nay nữa là tròn năm năm trời. Mới biết mặt cô hôm nay lần đầu nhưng ta nhớ đã
 từng trông thấy bàn chân cô rồi. Ta có một vật này muốn cho cô em xem. Cô vào bên trong chơi chút đã."

Vừa lúc cô gái định cáo từ ra về, y nắm tay nàng mời lưu lại và dẫn lên phòng khách, một căn gác nhìn
xuống con sông lớn. Y lấy ra hai cuộn tranh, trải bức thứ nhất trước mặt cô gái. Ðó là bức tranh vẽ Ðát Kỷ,
 nàng cung phi sủng ái của vua Tru .. Bức tranh diễn tả được hết vẻ yêu kiều và tàn bạo, vẻ yêu kiều của
bà phi tình tứ mà thân hình quá mảnh mai như không chịu nổi sức nặng của chiếc mão miện dát đầy lưu ly,
 san hô, để mặc vạt áo lụa phất phơ trên bậc thang lên điện, tay nghiêng một chén rượu lớn, ẻo lả tựa vào
lan can nhìn người đàn ông đang đợi hành hình; vẻ tàn bạo qua hình ảnh người đàn ông tay chân đều bị
cột chặt bằng xích sắt vào trụ đồng, mắt nhắm nghiền, đầu lả về phía bà phi, trong tư thế đợi giây phút
cuối của cuộc đời. Người con gái nhìn chăm chú bức tranh một lúc rồi không hiểu vì sao, ánh mắt nàng
chợt sáng lên, đôi môi run rẩy.

Kỳ dị thay, gương mặt nàng dần dần bỗng giống y khuôn mặt bà phi. Nàng như đã tìm ra được cái tôi
của mình cất dấu nơi đây.

" - Bức tranh này phản ánh cái Tâm của cô em đấy ! "

Seikichi nói xong, cười khoái trá, nhìn xoi mói vào mắt cô gái. Người con gái đưa tay lên ôm vầng trán
 tái xanh:

Y nói mà trên mặt vẫn giữ một nụ cười châm chọc khó chịu. Tuy thế, cô gái vẫn không chịu ngẩng đầu lên,
 nàng cứ nằm im tay lấy vạt áo che kín mặt.

" - Thôi cho em về đi thầy. Ở gần bên thầy sao mà sợ quá "

Nàng con gái cứ van lơn mãi.

" - Ðợi ở đây đị Rồi ta sẽ làm cho cô em thành mỹ nhân tuyệt trần cho cỏ "

Vừa nói, Seikichi đường hoàng ngồi sát lại cô gái. Trong bọc đồ nghề của y đã trữ sẵn một bình thuốc mê nài
lại từ mấy thầy thuốc Hòa Lan.

* * * * *

Mặt trời lay láy trên giòng sông, rọi vào căn phòng tám chiếu như muốn đốt cháy. Những tia nắng hắt từ
nước rún rẩy vẽ những đường nét uốn éo lên lớp giấy dán cửa, lên gương mặt thiêm thiếp của cô gái. Cửa
phòng đóng chặt, Seikichi tay cầm bộ đồ xâm, ngồi thừ như mất hồn một lúc lâu. Ðây là lần đầu tiên y được
 nhìn tường tận một vẻ đẹp kỳ dị và y nghĩ cho dầu ngồi mười năm, trăm năm trong căn phòng mà ngắm
 khuôn mặt kia, y cũng sẽ không bao giờ biết chán. Như dân Memphis ngày xưa đã trang điểm cõi trời đất
cao rộng của xứ Ai Cập bằng những kim tự tháp và tượng Sphinx, y đem cả tấm tình yêu của mình bắt đầu
chạm trổ lên trên da thịt mượt mà của một con người. Thế rồi tay trái y kẹp giữa ngón trỏ, ngón giữa và
ngón út nhúng mũi bút họa, tỳ lên trên lưng người con gái, tay phải cầm mũi kim bắt đầu xâm. Tâm hồn
của người thợ xâm trẻ tuổi hòa trong mỗi giọt mực, ngấm vào da. Mỗi giọt son Lưu Cầu tan trong rượu
mạnh đi vào thân thể cô gái là những giọt máu của y. Seikichi thấy qua bức họa mầu sắc của tâm hồn mình.
Không biết trời quá ngọ vào lúc nào, rồi ngày xuân êm đềm cũng ngả chiều, tay của Seikichi vẫn chưa dừng
một khắc mà người con gái cũng chưa tỉnh giấc. Ðộ chừng sợ nàng về chậm, một gã vác đàn được gửi tới
nhưng cũng bị đuổi khéo:

" - Ai chớ cái cô nhỏ đó thì đã về từ lâu ! "

Rồi trăng bắt đầu treo ngang trên những phố xá ở bãi cát bên kia sông, chiếu ánh sáng mờ ảo vào khắp
mọi nhà dọc bên bờ; Seikichi vẫn chưa xâm xong được một nửa, quyết ý khêu tim bạch lạp làm việc tiếp.
Xâm mỗi giọt mực lên trên làn da, đối với y thành ra một chuyện không đơn giản chút nào. Mỗi lần châm
một mũi, rút một mũi, người nghệ sĩ không nén được tiếng thở dài như cảm thấy đang khắc lên trái tim
mình. Ðường kim dần dần làm hiện lên trên làn da hình một con nhện cái thật lớn, và khi trời bắt đầu rựng
sáng thì con vật tám chân yêu ma này đã bắt đầu bò lên khắp chiếc lưng. Ðêm mùa xuân rạng cùng với
tiếng mái chèo ngược xuôi khuấy nước. Khi đợt sương trên đỉnh những chiếc buồm trắng no gió sớm bắt
đầu tan dần để những mái nhà ở Chyushyu, Nakozaki, Yoshikishijima lấp lánh ánh nắng, người thợ xâm
mới tạm ngừng đường kim, ngắm hình thù con vật mà y đã trổ lên lưng thiếu nữ.

Chính hình xâm này là cả mạng sống của ỵ Nhìn việc làm hoàn tất, người nghệ sĩ cảm thấy một nỗi trống
không to lớn. Hai bóng người cứ thế không mảy may động đậy. Thế rồi giọng khàn khàn, trầm trầm của
Seikichi dội vào bốn bên bức vách :

" - Ta vì muốn cho cô em thành một người con gái đẹp nên đã dồn hết tâm lực vào trong bức hình xâm.
Từ nay, khắp nước Nhật này không còn ai đẹp hơn cô em nữa đâu. Em sẽ hết còn nhút nhát, trăm thứ đàn
ông rồi trở thành nạn nhân của em cả."

Như hiểu được lời của người thợ xâm, nàng con gái bắt đầu cất tiếng rên khe khẽ. Dần dần tỉnh lại, mỗi lần
nàng thở ra hít vào thì con nhện trên lưng cũng cựa quậy như con vật sống.

" - Chắc đau lắm phải không ? Tại con nhện đương ôm siết thân hình cô em mà."

Nghe nói, người con gái mở mắt ngơ ngác nhìn, đôi đồng tử in những tia sáng của trăng tàn, sáng hẳn ra,
 nhìn vào mắt Seikichi :

" - Xin thầy làm ơn cho em xem con nhện trên lưng em. Nếu như thầy đã dồn hết tinh thần vào thì chắc
em phải đẹp chứ hở ? "

Tiếng nói của nàng như đang trong giấc mộng. Nhưng không hiểu ở đâu đó đã toát ra một sức bén nhọn.

" - Ờ thôi, bây giờ thì tắm nước nóng đi cho màu nó ăn. Rán chịu một chút, đau lắm đó. "

Seikichi ghé sát vào tai nàng nhỏ nhẹ như an ủi. Cô gái cố nén cái đau đang lan khắp châu thân, gượng cười :

" - Nếu mà được đẹp ra thì dầu có đau đớn cách mấy em cũng rán chịu đựng cho thầy coi."

* * * * *

" - Ối trời ơi, có nước nóng thấm vào rát quá... Xin lỗi, thầy làm ơn lên trên gác đợi em, em không muốn
đàn ông thấy sự đau đớn của em đâu ! "

Nàng không đủ sức lau nổi cái thân thể của mình vừa lấy ra từ nước nóng, gạt bàn tay đưa ra che chở của
Seikichi, đau đớn reo mình xuống tấm ván cọ, vất vả rên siết như giữa cơn ác mộng. Mái tóc điên loạn xổ
tung xuống gò má; sau lưng nàng có treo một tấm kính lớn, sống lưng của hai búp chân chiếu lên mặt kính.
Thái độ của cô gái đã thay đổi hoàn toàn so với chiều hôm qua. Người thợ xâm khôn xiết kinh ngạc nhưng
vẫn nghe lời leo lên gác ngồi đợi một mình. Khoảng nửa giờ sau, nàng đã để mái tóc vừa gội chảy xuống
đôi vai, sửa soạn áo xống bước lên.

Bây giờ nàng hoàn toàn không còn vẻ đau đớn gì cả, tựa lan can tỉnh táo ngước mi nhìn khung trời trắng đục.

" - Ta cho không cô em hai bức tranh này lẫn bức xâm đó. Thôi sửa soạn về đi thì vừa ".

Seikichi vừa nói, vừa đặt hai bức họa trước mặt cô gái. Nhưng nàng ta , đôi mắt long lanh ánh kiếm, tiếng
 nói vang như khúc ca chiến thắng :

" - Thầy ơi, bây giờ em đã hết mắc cỡ rồi. Chính thầy sẽ là nạn nhân đầu tiên của em đó."

" - Trước khi về, cho ta xem lại bức xâm lần nữa thử coi " Seikichi bảo.

Người con gái lặng im, gật đầu, từ từ cởi áo. Những phiến nắng chiếu lên bức xâm, làm con nhện trên lưng như hực lửa.

J. Tanizaki (1910)

Chú thích

(1) Tanizaki Jun'ichiro (1886-1964) là người kể chuyện có duyên nhất trong số những nhà văn Nhật
 Bản tiền chiến. Ông có một lối hành văn diễm lệ, nội dung các tác phẩm phần nhiều khai thác cảnh sống
đồi trụy của xã hội cũ đang suy tàn và địa ngục của đời sống nội tâm. Sở trường về tiểu thuyết lịch sử và
tiểu thuyết phong tục. Tuy nhiên vì trốn tránh thực tại và thiếu tinh thần phê phán xã hội, văn chương
 của ông chỉ là một thứ đồ chơi giữa khi chủ nghĩa phát xít đang hồi toàn thịnh. Tác phẩm của ông đã
được dịch ra nhiều thứ tiếng.

(2) Ukiyoe : tranh Nhật Bản vẽ về những chủ đề xã hội dưới thời Edo (1603 - 1866). (3) Edo : tên cũ
 của ToKio dưới thời Mạc Phủ Tokugawa ( thế kỷ 17 đến thế kỷ 19), nơi phát xuất nhiều vũ sĩ (samurai)
 can đảm và thiện chiến.

oOo

Xin "xâm mình" gửi ý kiến và tác phẩm văn chương về xâm mình đến anh Điền kỳ này. Thư sau sẽ lại còn
nhiều chuyện để nhắc nhớ về Bình Dương-Thủ dầu một nữa.
 

VÕ HIẾU NGHĨA

%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%





2/ TƯỞNG NHỚ ÔNG THOẠI-NGỌC-HẦU (1762-1829), MỘT CÔNG THẦN KHAI QUỐC DƯỚI TRIỀU NGUYỄN 


Học Giả Hàn Lâm Nguyễn Phú Thứ tại Paris (Pháp), đã viết hàng chục tác phẩm giá trị về : Ngôn Ngữ, Giáo Dục, Lịch Sử, Nhân Văn, Phong Tục Tập Quán, Tôn giá...góp phần giữ gìn tài bồi Văn Hóa Việt Nam đáng ngưỡng mộ, không những với công trình biên khảo đó, Ông đã được Chánh Phủ Pháp trao tặng các huy chương cao quý và được mời tham dự Hội Viên : Bắc Đẩu Bội Tinh (2007) Chevalier dans l’Ordre de la Légion d’Honneur - Đệ Ngũ Đẳng Hàn Lâm (2003) Chevalier dans l’Ordre des Palmes Académiques



Hàn Lâm NGUYỄN PHÚ THỨ 
(Trích dẫn tác phẩm Tìm Hiểu Các Danh Nhân của Nguyễn-Phú Thứ) 

Để biết tìm hiểu thêm sơ lược tiểu-sử và thân-thế sự-nghiệp Ông Thoại-Ngọc-Hầu, xin trích dẫn như sau : 

Được biết, Ông Nguyễn-Văn-Thoại, sanh năm Tân Tỵ 1761 tại huyện Diên Phước, Tỉnh Quảng Nam, rồi theo gia-đình lánh nạn vào Nam-Kỳ ở cù lao Dài trên sông Cổ Chiên, thuộc Tiền Giang ngày nay. Ông có hai con trai là : Ông Nguyễn-Văn-Lâm con của bà Châu-Thị-Tế (vợ chánh) và Ông Nguyễn-Văn-Minh con của bà Trương-Thị-Miệt (vợ thứ). Ông là công thần của Thánh-Tổ Nguyễn-Phúc-Đảm (1820-1840) tức vua Minh-Mạng, được phong chức Hầu, nên từ đó Ông mang tên Thoại-Ngọc-Hầu. Khoảng đầu thế kỷ 19 Ông được triều đình tiến cử đi trấn nhậm ở vùng Vĩnh-Thanh sau trở thành An-Giang đạo có người nói hạt An-Giang (nơi này tương đương một quân khu). Vùng Vĩnh-Thanh rộng lớn bao gồm các Tỉnh : Long-Hồ (Vĩnh-Long), Trà-Vang (từ Trà-Vinh đến Bến-Tre), Ba-Thắc (từ Sóc-Trăng đến Bạc-Liêu), Tâm-Phong (từ Châu-Đốc đến Sa-Đéc), Trấn Giang (Cần-Thơ). Phía Nam đã có dân cư, đất không bị ảnh hưởng ngập lụt hằng năm, bởi vì có các con kinh thoát nước ra sông Cửu Long. Riêng phía Bắc, dân cư thưa thớt, khó sanh sống, chỉ trừ Sa-Đéc và Tân-Châu (Châu-Đốc) vì hằng năm bị ngập lụt. Do vậy, nhà vua nghĩ đến việc đào kinh, để giao thông thủy lợi quan trọng từ Châu-Đốc đến Hà Tiên và chính con kinh này để phòng thủ biên giới Việt-Miên rất tốt, từ đó Ông Thoại-Ngọc Hầu phải đứng ra đôn đốc việc đào kinh từ năm 1819 thật gian nan, bởi vì nơi này còn rừng rậm, lau sậy sầm uất, nhiều thú dữ, nên phải huy động trên 80.000 nhân công và hoàn thành năm 1824. Sau đó, lấy tên phu nhân của Ông Thoại-Ngọc Hầu là Bà Châu-Thị-Tế ? (hoặc là Bà Châu-Thị-Vĩnh-Tế không biết hư thực như thế nào ?) để đặt cho con kinh, bởi vì bà thuộc dòng họ Châu-Vĩnh, Bà là con của Ông Châu Vĩnh-Huy, cho nên mới có tên con kinh là Vĩnh-Tế. Đây là một kỳ công của tiền nhân lúc bấy giờ, với dụng cụ thô sơ, chỉ dùng sức người để đào được con kinh dài 97 cây số và có bề rộng 50 thước. Kinh Vĩnh-Tế đào đến đâu, Ông Thoại-Ngọc-Hầu cho lập thành làng để dân chúng định cư tới đó sanh sống thật dễ dãi, nhờ hai bên bờ kinh cao, nên việc cất nhà không bị ngập lụt sâu, làm ruộng rất thuận lợi, vì nước phèn rút hết, rất trúng mùa và đường giao thông thuận tiện, cho nên xóm làng mọc lên như : Làng Vĩnh Tế gọi Vĩnh-Tế thôn, từ đó khoảng từ Châu-Đốc đến vùng Thất-Sơn (7 núi là: Bà Đội Ôm, Dài, Cấm, Cô Tô, Két, Phụng Hoàng và Voi), ruộng đất được khai khẩn thêm; Làng Thới-An (Ô-Môn); Làng Thới-Thuận; Tân Thuận-Đông (Vùng Thốt Nốt); Làng Bình-Đức (Long-Xuyên), Làng Phú-Mỹ, Bình-Mỹ; Làng Châu-Phú; Định-Thành, Định- Phước thuộc huyện Tây-Xuyên (có nghĩa là là bờ phía Tây của Sông Hậu-Giang) dần dần thành hình để nhà vua cho lập ra hạt An-Giang. 

Vào năm 1818 Ông Thoại-Ngọc-Hầu còn cho đào con kinh Thoại Hà, từ Núi Sập thuộc huyện Thoại-Sơn đến Hà-Tiên (Rạch-Giá) có chiều dài hơn 30 cây số và có chiều rộng 50 thước, nghe nói con kinh này khởi đào trước kinh Vĩnh-Tế? Ngoài ra, Ông Thoại-Ngọc-Hầu còn cho đắp nhiều con lộ, ngày nay hầu hết đã mất dấu, chỉ còn con đường nối liền Châu-Đốc với Núi Sam được xây dựng trong 2 năm 1826-1827, được đặt tên là "Tân lộ Kiều Lương" đã tu sửa để sử-dụng đến ngày nay. 

Được biết, Ông Thoại-Ngọc-Hầu mất năm 1829, thọ 68 tuổi, là người có công tạo dựng đời sống người, xem như một vị khai quốc công thần của triều đình, vì thế nhà vua cho xây lăng, dựng miếu để thờ phụng, ngày đêm hương khói nghi ngút tại núi Sam (Châu-Đốc), người dân nhớ ơn Ông nên gọi tên Ông là Bảo-Hộ-Thoại, đồng thời đặt tên đường trong thị xã Châu-Đốc và tại thành phố Long-Xuyên lấy tên Ông đặt tên trường Trung-Học Thoại-Ngọc-Hầu để tưởng nhớ đến Ông. 

Nếu du khách có dịp đi thăm Long-Xuyên, nên thưởng thức một bữa cơm với Canh Chua cá BÔNG LAU với cá RÔ Kho Tộ béo ngậy và có thì giờ nên ăn thêm mắm kho với rau thật ngon tuyệt, vì hương vị đậm đà độc đáo quê-hương mình. Đó là thức ăn danh tiếng ở Long Xuyên đã được Ông Tản-Đà Nguyễn-Khắc-Hiếu viết khen tặng trong bài "Thú Ăn Chơi " của Ông, xin trích dẫn như sau : 

"Thú ăn chơi cũng gọi rằng, 
Mà xem chửa dễ ai bằng thế gian, 
Hà tươi cửa bể Tu-Ran, 
LONG-XUYÊN chén Mắm, 
NGHỆ-AN chén Cà."
 

Đến Châu-Đốc chúng ta hồi tưởng lại những câu ca-dao dân gian Miền Nam, xin trích dẫn như sau : 

"Đèn nào cao bằng đèn Châu-Đốc, 
Đất nào dốc bằng đất Nam Vang..."
 

Bởi vì, Châu-Đốc có những ngọn núi cao nhứt miền Tây, để du khách chuẩn bị có sức leo núi, xin mời du khách nên thưởng thức mắm cá Lốc thái, mắm cá Trèn là đặc-sản có tiếng ngon đáo để, ăn quên thôi. Rồi bắt đầu đi thăm trường trung-học Thủ-Khoa-Nghĩa, Bồ Đề Đạo Tràng ngay trong thị xã, kế đến đi thăm lăng mộ Ông Thoại-Ngọc-Hầu và thắng cảnh núi Sam, chưa đày 6 cây số, khi đến đầu núi này chúng ta sẽ gặp ChùaTây-An cùng lăng mộ Ông Thoại-Ngọc-Hầu ở phía bên trái và Chúa-Xứ Thánh Miếu ở bên mặt. Trước hết, chúng ta thăm viếng và tìm hiểu Chúa Xứ Thánh Miếu, miếu này được kiến trúc theo lối Đông Phương cổ kính, có cổng rất đẹp như sau : 
[img]http://img440.imageshack.us/i/nuisam1.jpg/[/img] 
Cổng Chúa Xứ Thánh Miếu núi Sam Châu-Đốc Hè 2001 
và có mái cong lợp ngói xanh, tường cẩn gạch tráng men, các cánh cửa bằng danh mộc được chạm trổ công phu, lại có hai con sư tử bằng đá với thế ngồi canh giữ thật uy nghi. 

Được biết, miếu Bà được trùng tu lại vào năm 1973, do kiến trúc sư Huỳnh -Kim -Mãng thiết kế, bởi vì theo tài liệu khoảng năm 1825 đã cất miếu bằng tre, mái lợp bằng lá đơn sơ, kế đến khoảng năm 1870 được xây dựng bằng đá miểng, mái lợp ngói. Ngôi Miếu hiện nay hoàn toàn mới, chỉ còn lại vách đá ở sau lưng tượng Bà là cũ. Người ta kể lại rằng: Cách đây khoảng 200 năm, có một toán người gặp tượng Bà trên đỉnh núi Sam, rồi dân làng tìm cách đem về để thờ, nhưng bao nhiêu người khiêng cũng không nổi. Có một người tức giận đập phá tượng Bà, làm gãy cánh tay trái, thì bị Bà trừng phạt hộc máu chết tại chỗ. Mọi người lúc đó hoảng sợ bỏ chạy, một thời gian khá lâu sau, Bà đạp đồng về kêu dân làng đem xuống núi thờ Bà, vì có lòng tín ngưỡng, cả trăm dân làng tụ tập để khiêng tượng Bà, nhưng không cách nào lay chuyển được, trong lúc bối rối, Bà lại đạp đồng cho biết phải chọn 9 cô gái đồng trinh lên khiêng, Bà mới chịu xuống núi. Quả thật vậy, chỉ 9 cô gái đồng trinh lên khiêng Bà dễ dàng, khi khiêng đến nơi làm miếu Bà hiện nay, thì tự nhiên nặng trịch, không sao nhấc nổi nữa. Vì vậy, dân làng nghĩ rằng Bà muốn ở tại nơi đây, nên lập miếu để thờ Bà nhằm ngày 25 tháng 4 âm lịch, từ đó hằng năm dân làng lấy ngày đó làm ngày lễ vía Bà. Dân chúng càng ngày càng tin tưởng vào sự thiêng liêng và đồn rằng ai xúc phạm đến Bà sẽ bị bẻ cổ hoặc cho hộc máu mà chết và có một tin đồn rằng: Hồi đó, không biết thời gian nào có một người ăn trộm trồng chuối ngược vào ăn cắp nữ trang của Bà, Bà bẻ cổ không được? hay là lời đồn phóng đại này nhằm tăng thêm sự linh thiêng của Bà chăng? Bởi vì, các bô lão ở đây, không thấy người nào bị Bà bẻ cổ bao giờ. Còn việc khiêng tượng Bà từ trên đỉnh núi Sam xuống, có người lại nói 50 thanh niên lên khiêng Bà không nổi, nhưng 50 cô gái mới khiêng bà xuống núi được? Không biết hư thực như thế nào? Xin quý bậc cao minh ở đây phân giải đâu là sự thật? Có một truyền thuyết nữa, nói rằng : Trong thời gian Ông Thoại-Ngọc-Hầu đào kinh Vĩnh-Tế, nơi này còn rừng hoang lại có thú dữ thường ăn thịt nhân công và phong thổ khắc-nghiệt làm chết người. Vì vậy, phu nhân Ông là Bà Châu-Thị-Tế ở nhà, đêm đêm vọng bàn hương án cầu Trời khấn Phật, để xin cho công việc đào kinh được hoàn thành, sẽ thành lập một miếu để cúng cô hồn tử sĩ, các nhân công chết vì đào kinh. Sau đó, Ông nghe trên núi có một tượng Bà, nên sai binh lính đi rước tượng Bà vào ngày 25 tháng 4 âm lịch về thờ cho có phần linh thiêng. Đó là, một trong những truyền thuyết trong dân gian, đã trích dẫn không biết đâu là sự thật đúng sai? 

Tuy nhiên, ngày nay hằng năm vào ngày 25 tháng 4 âm-lịch, dân chúng khắp nơi về để làm lễ vía Bà thật đông, làm nghẹt cả lối đi từ Châu Đốc đến núi Sam, có khi phải lội bộ xuống ruộng mà đi, nói là đi lễ vía Bà, nhưng nhân dịp này du khách đi du lịch để thăm viếng vui chơi luôn. Thông thường, đêm lễ vía Bà, Ban tế-tự người ta làm lễ túc yết và xây chầu được tóm lược như sau : Người điều khiển cuộc lễ này do Ông Cả và Ông Chánh Bái trong làng thực hiện, khởi đầu dâng Heo sống lên Bà, nhưng chỉ tượng trưng bằng cách lấy ít huyết (máu) heo và lấy mao (lông) heo để chung một cái dĩa để cúng nơi chánh điện thờ Bà (mỗi năm nhân dịp vía Bà, ban tế tự thường thay áo mão mới có thêu rồng phụng màu đỏ sặc sở), rồi làm lễ đốt nhang (bái hương), dâng rượu, đọc điếu văn và dâng trà tức 4 lễ. Kế đến, mới làm lễ xây chầu để đoàn hát bộ bắt đầu hát loại tuồng cổ tích nào ban tế-tự đặt. Còn con heo đã bị cắt huyết, cắt lông vừa rồi, làm thịt nó để thết đãi cho những người có chức việc trong lễ vía Bà... 

Trở lại tượng Bà ở núi Sam, theo tài liệu được biết năm 1938, Ông Louis Mallerer (Maleret?) nhà khảo cổ người Pháp đến thăm viếng miếu Bà, Ông là người đã từng làm việc nhiều ngày trong các viện bảo tàng, cho nên Ông đã quan sát kỹ pho tượng Bà, từ chất liệu cấu tạo, phương pháp tạc tượng cho đến thế ngồi, để rồi Ông phân tách và nghiên cứu bằng những phương pháp so sánh, cuối cùng Ông kết luận rằng : Pho tượng này được trước tác vào thời trung cổ hoặc cuối thế kỷ VI đầu thế kỷ VII, mang tánh chất tượng thần XIVA hay VISNU với nét mặt khôi ngô, mái tóc dợn sóng, tư thế thanh thản, thường thấy ở Cao-Miên, Ấn Độ ... 

Vậy tại sao tượng Bà lại ở trên đỉnh núi Sam? Theo truyền thuyết nói rằng : Có một hoàng-tử Ấn Độ cùng đoàn tùy tùng đã dùng thuyền đi phương Nam để tìm đất lập quốc, cùng lúc ấy lại có một đoàn tăng lữ đạo Bà La Môn mang theo pho tượng để truyền bá đạo, khi đến phương Nam hoàng tử kết duyên cùng nữ chúa Liu Yi và lập nên vương quốc Phù Nam, đồng thời cùng đoàn tăng lữ Bà La Môn đã đặt pho tượng lên hòn Sam mới nhô lên trên mặt biển lúc bấy giờ, để rồi thời gian biến đổi nước biển lui dần, hòn Sam trở thành núi Sam xuất hiện trên đất liền, cho nên pho tượng dân làng tìm thấy ở đỉnh núi Sam là tượng Bà ngày nay tôn thờ ở núi Sam là như thế? Đó là một trong những truyền thuyết, khó ai biết rõ đâu là sự thật này? 

Rời Chúa Xứ Thánh Miếu, du khách bước qua bên trái đường để thăm chùa Tây An và lăng mộ Ông Thoại-Ngọc-Hầu. 
[img]http://img444.imageshack.us/i/nuisam2.jpg/[/img] 
Quang cảnh cửa chánh chùa Tây-An núi Sam 

Được biết ngôi chùa Tây An này là một trong những thắng cảnh đẹp nhứt núi Sam, có lối kiến trúc đặc biệt và nguy nga của Ấn Độ, gồm ba ngôi lầu, chánh giữa để thờ Phật, hai bên là lầu chuông và lầu trống. Từ ngoài bước lên bậc thềm cửa chánh, thấy ngay tượng Phật Quan Âm Thị-Kính đang bồng đứa bé, trong sân chùa có hai con Voi đứng tạc bằng xi măng, con Voi trắng có 6 ngà, con Voi đen có 2 ngà ... 

Trong chùa có thờ rất nhiều tượng các vị như : Phật, Tiên, Thánh, Kim Cang, La Hán, Tam Hoàng, Ngũ Đế ...Ngoài ra, còn thấy tượng của hoà-thượng Thích-Bửu-Thọ tức Ông Nguyễn-Thế-Mật, vị sư trụ trì thứ bảy, cũng là người có công trùng tu ngôi chùa Tây-An này rất nhiều. Được biết ngôi chùa này do Ông Tổng-Đốc An-Giang là Ông Doãn-Uẩn thời Thiệu-Trị xây dựng năm 1847 và đặt tên là Tây-An, bởi vì, Ông Doãn-Uẩn lấy chữ đầu của hai huyện Tây Xuyên và An-Xuyên thuộc tỉnh An-Giang ngày xưa ghép lại. Năm 1861 Hòa Thượng Thích Nhất Thừa trùng tu lần thứ nhứt và đến năm 1958, Hoà-Thượng Thích-Thế-Mật tu bổ và xây dựng thêm 3 ngôi tháp lầu. Đặc biệt, ngôi chùa này có Phật Thầy tức Ông Đoàn-Minh-Huyên, pháp danh Pháp Tạng, sanh năm 1807 Đinh Mão, quê quán tại làng Tòng Sơn, thuộc trấn Vĩnh-Thanh ngày xưa, nay thuộc Tỉnh Đồng Tháp về tu, được biết trong thời gian ở đây, Ngài lập nhiều trại ruộng nhằm khai khẩn đất hoang để sản xuất cùng làm căn cứ chiến đấu khi cần. Ngoài ra, Ngài có sai Đức Cố Quản Trần-Văn-Thành đem 4 cây dầu đến làng Long-Kiến (An-Giang) trồng phía trước và phía sau ngôi chùa và đặt tên cho chùa là Tây An Cổ Tự, còn chùa ở núi Sam là Tây An Tự như ngày nay chúng ta đã thấy, cho nên sau này các phật tử gọi là Đức Phật-Thầy Tây-An. Theo bi ky trước mộ ở sau chùa Tây An, Ngài mất ngày 12 tháng 8 năm 1856 Bính Thìn, thọ 50 tuổi. Trước khi mất, Ngài đã biết trước nên có căn dặn các đệ tử sau khi chôn xác, không được đắp nắm mộ, bởi vì ngài là một chí sĩ yêu nước, có tư tưởng chống giặc Pháp, điển hình có đệ tử là : Ông Trần-Văn-Thành tức Cố Quản Thành (*) đã tiếp nối chống giặc ngoại xâm, cho nên sợ giặc Pháp phá nát ngôi mộ của Ngài. Ngày nay, du khách ra phía sau chùa sẽ thấy ngôi mộ Đức Phật Thầy Tân An và bảo tháp các vị trụ trì nằm trong một vuông đất cao có cây vòng rào và cổng vào rất đẹp. 

(*) Để biết thêm Đức Cố Quản Trần-Văn-Thành hoạt-động ở Châu - Đốc xin trích dẫn như sau : Ông Trần-Văn-Thành làm Chánh Quản Cơ dưới triều vua Thiệu -Trị vàTự Đức. Bởi có công nghiệp lớn với đạo và đời, hơn nữa Ông và con của Ông là Trần -Văn-Nhu và cháu nội là Ông Trần-Quang-Nhơn là những bậc đạo hạnh cao siêu, ân nhuần thiện tín, nên người đời sau kính trọng Ông và thường gọi Ông là Đức Cố-Quản. Sau khi quân Pháp chiếm ba tỉnh Miền Đông là : Biên-Hòa, Gia-Định và Định-Tường, triều đình Huế phải ký hòa-ước, các sĩ phu và dân chúng Miền Tây (Nam Kỳ) đứng lên chống giặc Pháp. Kế đến, khi giặc Pháp cưỡng chiếm thành An-Giang, thì Ông Trần-Văn-Thành không hàng giặc, rút quân về Láng Linh, rồi mộ thêm nghĩa sĩ, luyện tập và rèn thương đao ... ra mặt để chống lại. Mặt khác, Ông tìm cách liên lạc với Ông Cố Quản Trương-Công-Định ở Miền Đông, Ông Thiên Hộ Dương ở Đồng Tháp Muời ... để liên kết chống giặc Pháp, nhưng bất thành vì các lực lượng nghĩa sĩ lần lần bị tan rã: Ông Trương-Công-Định tử trận ở Kiến Phước, ngày 20-8-1864, năm 1864 Ông Thủ-Khoa-Huân bị đày 10 năm khổ sai ra đảo Réunion, Ông Thiên Hộ-Dương bị đại bại sau trận tấn công mãnh liệt của Pháp vào tháng 4 năm 1866, Ông Nguyễn-Trung-Trực bị hành hình tại Rạch-Giá vào ngày 27-10-1868. Do vậy, Ông Trần-Văn-Thành dù có tấn công Pháp mấy trận ở Chắc Cà Đao (Long-Xuyên), nhưng lần hồi kém thế, nên Ông phải bắt buộc phân tán nghĩa sĩ quanh vùng Láng Linh ẩn náo trong túp lều tranh với vài đệ tử, ngoài mặt tu hành để chờ thời cơ thuận tiện. Mãi đến năm 1873, Ông vẩn một lòng một dạ chống giặc Pháp, bằng chứng ở Hang-Tra(*) ... không chấp nhận thơ dụ hàng của Pháp do tên Thông mang đến và còn khẳng khái nói rằng : Tôi thề cùng quân sĩ bỏ xác nơi rừng này chớ không thèm ra làm quan cho Tây đâu! Ông hãy mau về nói lại với bọn nó như vậy". Sáng sớm ngày 19 tháng 3 năm 1873, quân Pháp do sự hướng dẫn của Đốc Phủ Trần Bá Lộc kéo đến hành dinh Hưng Trung công phá. Đến trưa có tin đồn kho chứa lương thực bị thất thủ và binh Gia Nghị tổn thất nặng nề. Riêng Ông Trần-Văn-Thành, theo các tín đồ và nghĩa sĩ nói Ông mất tích, còn phía giặc Pháp nói Ông bi giết tại trận tiền cùng với Cai Vàng. Nghĩa sĩ tan vở, chiến khu Bảy Thưa bị quân Pháp phá tan và từ đó không ai thấy Ông Cố Quản Trần-Văn-Thành ở đâu nữa. 

(*) Được biết trận đánh với Pháp vào ngày 20 tháng hai năm 1873 Quý Dậu, ở địa danh Hang-Tra, thuộc ấp Bình Phú (Cồn nhỏ), làng Bình Thuận Đông, Tổng An Lương, Quận Châu Phú Hạ, Tỉnh Châu-Đốc nay là ấp Bình Phú, Xã Bình-Hòa (Mặc Cần Dưng), Quận Châu-Thành, Tỉnh An-Giang. Để nhớ công ơn Ông, nơi đây có thành lập một ngôi trường trung-học mang tên Quản Cơ Thành. 

Sau khi thăm Chùa Tây An xong, du khách đi tiếp tới lần lượt sẽ thấy Lăng Mộ Ông Bà Thoại-Ngọc-Hầu. Đây là một lăng mộ cổ, xây bằng đá ông phải mua từ Biên Hòa về, do chính Ông Thoại-Ngọc-Hầu chỉ huy xây, bởi vì chúng ta nhìn toàn bộ lăng mộ thấy các phần mộ như sau: Bà Trương-Thị-Miệt, vợ thứ của Ông mất năm Tân Tỵ 1821 nằm bên trái phần mộ Ông, còn Bà Châu-Thị-Tế, vợ chánh của Ông mất năm Bính-Tuất 1826 nằm bên phải phần mộ Ông và Ông mất năm Kỷ Sửu 1829 (tức sau 3 năm). Do vậy, Ông đã chọn trước cho mình một phần mộ nằm ở giữa hai bà vợ. Ngoài ra, khoảng trên 80 ngôi mộ nằm xung quanh lăng mộ của Ông Bà Thoại-Ngọc-Hầu có hình khác nhau như: bầu dục, voi phục, trái đào ... là những binh lính hoặc những nhân công đào kinh Vĩnh Tế chết mang về đây chôn để hầu cận Ông. 

Toàn lăng mộ chúng ta thấy một công trình kiến tạo độc đáo hài hoà, nhìn ngắm từ xa chúng ta thấy cái uy nghi, hùng vỉ rất tôn nghiêm và cổ kính của một lăng mộ đáng được tôn vinh Ông Thoại-Ngọc-Hầu. 

Khi bước vào đền thờ Ông Thoại-Ngọc-Hầu, chúng ta thấy ở chính giữa và trên cao hết là thờ bài vị Ông Thoại-Ngọc-Hầu. Xung quanh còn bàn thờ chánh, còn có nhiều bàn thờ khác với các bộ lư bằng đồng, các bình chưn hương khói lên nghi ngút để thờ những quan chức dưới quyền Ông, kế đến cái tủ đựng áo mão can đai của Ông Thoại-Ngọc-Hầu... 

Đó là, tổng quát về lăng mộ của một vị khai quốc công thần triều Nguyễn của Ông Thoại-Ngọc-Hầu đáng được tôn vinh và kính trọng.

%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%% 


3/ TƯỞNG NHỚ 47 NĂM TỪ TRẦN CỦA BÀ
NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU
 

Hàn Lâm Nguyễn-Phú-Thứ 

(Trích dẫn tác phẩm Tìm Hiểu Vua Bảo Ðại của Gs Nguyễn Phú Thứ) 

Căn cứ theo quyển NGUYỄN PHÚC Tộc Thế Phả đã xuất bản tại Huế (Việt-Nam), phát hành năm 1995: Bà NGUYỄN THỊ LAN còn tên thánh là Marie Thérèse tức Nam Phương Hoàng Hậu. Bà là con của Long Mỹ Quận Công Nguyễn Hữu Hào, người tỉnh Gò Công. Bà sanh ngày 17 tháng 10 âm lịch năm Giáp Dần nhằm ngày thứ tư 04 tháng 12 dương lịch năm 1914. Năm Ðinh Mão (1927) bà du học tại Pháp, học tại trường Couvent des Oiseaux ở Paris. Năm Nhâm Thân (1932) bà trở về nước và gặp vua Bảo Ðại trong một chuyến nghỉ mát ở Ðà Lạt. Ngày 6 tháng 2 năm Giáp Tuất (20-3-1934) bà tấn cung vào ở điện Kiến Trung. Ngày 10 tháng 2 năm Giáp Tuất (24-3-1934) được phong là Nam Phương Hoàng Hậu, lễ tấn phong được cử hành long trọng tại điện Dưỡng Tân. Năm Kỷ Mão (1939) bà theo vua Bảo Ðại sang Pháp cùng với ba con. Trong chuyến đi này bà cùng vua ghé La Mã và được Ðức Giáo Hoàng đón tiếp. Sau khi vua Bảo Ðại thoái vị, bà sang sống tại Pháp và ở đấy với các con cho đến lúc mất. Bà sinh được 2 Hoàng Tử và 3 Công Chúa : 

- Nguyễn Phúc Bảo Long, sinh năm Ất Hợi (1936) được phong Hoàng Thái Tử vào năm Kỷ Mão (1939), hiện sống tại Pháp. 

- Nguyễn Phúc Bảo Thắng, sinh năm Quý Mùi (1943). 

- Nguyễn Phúc Phương Mai, sinh năm Ðinh Sửu (1937). 

- Nguyễn Phúc Phương Liên, sinh năm Mậu Dần (1938). 

- Nguyễn Phúc Phương Dung, sinh năm Tân Tỵ (1942). 

Ðược biết thêm, Bà Nguyễn Thị Lan con của Ông Nguyễn Hữu Hào, theo đạo Thiên Chúa Giáo từ lâu đời, thuộc thành phần đại điền chủ rất giàu có danh tiếng và trí thức. Ông Nguyễn Hữu Hào không những có ruộng đất ở Gò Công thuộc tỉnh Long An (Nam Phần Việt Nam) mà còn nhiều đồn điền trồng Trà và Cà Phê ở Lâm Ðồng, Ðà Lạt nữa. Bà Nguyễn Thị Lan là cháu Ngoại của Ông Lê Phát Ðạt tức Huyện Sỹ một trong những nhà giàu có nhất Nam Phần, là người đã bỏ tiền ra xây cất nhà thờ rất nguy nga ở cuối đường Võ Tánh Sàigòn trước kia, thường gọi là nhà thờ Huyện Sĩ mãi đến nay vẫn còn. Ngôi mộ của Ông Ngoại Bà được chôn trong khu vực nhà thờ này. Năm 1926, Bà Nguyễn Thị Lan, mới 12 tuổi được gia đình cho sang Pháp du học tại trường Couvent des Oiseaux, là một trường nữ danh tiếng dành cho những gia đình giàu có tại Pháp, để đào tạo nhiều bậc mệnh phụ phu nhân, do các nữ tu điều khiển. Bà là một trong những nữ sinh học giỏi tại trường này, đến năm 1930, Bà được bầu Hoa Hậu khi mới 16 tuổi trăng tròn, nhân dịp hội chợ do trường tổ chức. Có người kể rằng chính vua Bảo Ðại khi còn du học tại Paris (Pháp Quốc) cũng đến tham dự hội chợ này, nên chứng kiến tận mắt sự thành công và danh tiếng của Bà. Mùa Hè năm 1932, sau khi đậu tú tài xong, Bà trở về nước bằng chuyến tàu Pháp tên D'Artagnan, của hãng Messagerie Maritime và gặp vua Bảo Ðại cũng hồi loan sau khi hoàn tất việc học, để tiếp nối vua cha Khải Ðịnh trị vì thiên hạ. Trong một buổi dạ vũ được tổ chức trên tàu, Ông Lê Phát An là cậu của Bà đã từng quen biết vua Bảo Ðại (Hoàng Ðế), nên dẫn Bà đến yết kiến nhà vua. Bà đã làm đúng nghi thức triều yết Hoàng Ðế mà Bà đã được nhà trường hướng dẫn từ trước. 

Bà đã quỳ gối và xưng tên của mình trước khi nói lời chúc tụng Hoàng Ðế (chi tiết này chính Bà Nam Phương Hoàng Hậu kể lại cho Ông Nguyễn Tiến Lãng). Hoàng Ðế Bảo Ðại rất cảm động trước tư cách và nhan sắc của Bà. Từ đó, ngài thường tìm dịp nói chuyện với Bà. 

<<... Trong những năm cuối cùng của Bảo Ðại ở Pháp, vào lúc đã ở tuổi trưởng thành, họ cho một nữ sinh tên là Marie Thérèse Nguyễn Thị Lan, con một nhà phú hộ theo Thiên Chúa Giáo là Ông Nguyễn Hữu Hào ở Nam Kỳ, đi Pháp du học. Tất nhiên Cô Marie Thérèse phải là một tiểu thư dù không hoàn toàn sắc nước hương trời thì vẫn có được cái đẹp kiều diễm đài các để có thể làm rung động trái tim của một nhà vua trẻ đang đến tuổi rạo rực tình yêu đôi lứa. Trong thời kỳ Bảo Ðại còn bận học hành, họ chưa cho đôi trai tài gái sắc gặp nhau mà đợi đến khi Bảo Ðại thấy mình đã trưởng thành và có trách nhiệm với quốc dân thì họ mới tổ chức cho Marie Thérèse Nguyễn Thị Lan gặp Bảo Ðại. Ban đầu họ cho Cô Lan lân la gần Bảo Ðại mỗi khi Ông đứng một mình trên boong tàu nhìn ngắm sóng nước trùng dương. Cho đến khi hai người đã vượt khỏi giai đoạn khách sáo thì họ bắt đầu tổ chức cho đôi uyên ương khắng khít nhau hơn trong những buổi dạ hội trên chuyến tàu xuyên đại dương bất tận.Ạ>>

Ðây là chứng minh Bà Nguyễn Thị Lan gặp được vua Bảo Ðại trên tàu, qua hai tác giả đã dẫn thượng, từ đó đưa đến hôn nhân. 

Theo Ông Tôn Thất An Cựu viết bài Nam Phương Hoàng Hậu Bà Hoàng Cuối Cùng của triều Nguyễn đã được đăng trong Việt Báo Giai Phẩm Xuân Tân Tỵ 2001 nơi trang 23, tại Nam California Hoa Kỳ, xin trích dẫn như sau : <<... Mãi cho đến gần một năm sau (tức khoảng năm 1933), nhân dịp vua Bảo Ðại nghỉ mát tại Ðà Lạt và do sự sắp đặt của Toàn Quyền Ðông Dương, viên Ðốc Lý (tức Thị Trưởng sau này) thành phố Ðà Lạt tổ chức một buổi dạ tiệc tại khách sạn Palace (sau gọi khách sạn Lang bian) để tìm cách cho hai người gặp nhau. Tối hôm đó, trong chiếc áo lụa màu thiên thanh, Nguyễn Thị Lan đã xuất hiện trước Hoàng Ðế Bảo Ðại để rồi chiếm trọn trái tim của một người có địa vị cao nhất nước.>> 

Trong khi đó, quyển Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của Hoành Linh Ðỗ Mậu, viết như sau : 

<<... Chỉ tội nghiệp cho Bà Từ Cung Thái Hậu, vì trong lúc con mình ở nơi đất khách quê người, thì Bà đã lo nghĩ đến tương lai của dòng họ, đã nghĩ đến việc tìm bạn trăm năm cho con. Tại Huế, Bà đã cho dò xét thân thế, phẩm hạnh, sắc đẹp của bao nhiêu tiểu thư khuê các con những vị đại thần để Bà có lựa chọn một nàng dâu cho Hoàng Tộc, một Hoàng Hậu tương lai cho nước An Nam. Bà đã chọn được một nữ sinh con một vị đại quan có sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành mà Bà mẹ của tiểu thư đó cũng sùng mộ Ðạo Phật như Bà (tiểu thư này sau lấy chồng họ Phạm, giáo sư trường Quốc Học Huế). Bà chỉ đợi con mình ngự giá hồi loan chính thức điều khiển việc nước là làm lễ thành hôn cho đôi lứa. Cuộc đời của Bà xuất thân từ nơi dân giả, phúc đức Cha Ông đẩy đưa Bà được tiến cung làm Hoàng Hậu, nên Bà cố học hỏi cho thành người đài các chốn cung vi, cố trau giồi đức hạnh cho thành người vợ hiền dâu thảo. Nhưng chẳng may chồng mất sớm. Bà chỉ có một mụn con trai nên Bà thiết tha mong cho con trưởng thành để nối nghiệp vua Cha và nối dõi tông đường. Vì thế, đối với Bà, việc tìm kiếm một nàng dâu đức hạnh mọi bề là điều quan trọng thiết yếu nhất. Quan trọng vì không phải chỉ thương con mà còn vì danh dự triều đại nhà Nguyễn nữa. Bà không ngờ rằng trong lúc Bà đang sống những giây phút rộn ràng của bất kỳ một người mẹ nào đang lo chuyện trăm năm cho con, thì người Pháp ở trong những văn phòng của các thế lực giáo quyền và thế quyền, cũng âm thầm thực hiện âm mưu vượt quyền hạn và giết giấc mơ của Bà để cưới vợ cho Bảo Ðại dựa vào những tiêu chuẩn chính trị của chánh sách bảo hộ lâu dài. Bảo Ðại về nước được thời gian, việc triều đình tạm yên, thì vợ chồng Ông Charles người giám hộ của Bảo Ðại bắt đầu lo chuyện thành hôn cho Ông. Vào khoảng cuối năm 1933, Ông Bà Charles rủ Bảo Ðại đi Ðà Lạt, tại khách sạn Lang Bian huy hoàng tráng lệ, Bà Charles dẫn tiểu thơ Marie Thérèse Nguyễn Thị Lan giới thiệu với nhà vua trẻ tuổi trước sự chứng kiến của quan Toàn Quyền Pierre Pasquier. Tất nhiên, khi đã có phù phép của chúa tể thực dân tại Ðông Dương, thì cuộc hôn nhân chính trị giữa vua Bảo Ðại và Cô Nguyễn Thi Lan nhất định phải thành. Nó phải thành trên nỗi đau khổ cay đắng của Bà Từ Cung, của những vị đại thần trong Tôn Nhân Phủ và của cả Hoàng gia. Ðó là lần đầu tiên trong lịch sử nước nhà, triều đình Việt Nam có một vị Hoàng Hậu theo Thiên Chúa Giáo qua sự sắp đặt của các thế lực phương Tây. Sau 400 năm, công tác truyền giáo đạt đến cao điểm bằng sự có mặt của một nữ tín đồ trong chốn thâm cung của triều đình Việt Nam. Và Cô Marie Thérèse từ nay được mang danh hiệu là Nam Phương Hoàng Hậu.>> 

Theo giáo sư Nguyễn Lý Tưởng viết trong quyển Thuyền Ai Ðợi Bến Văn Lâu, như sau : Trong cuốn hồi ký Le Dragon d'Anam. Bảo Ðại có nhắc đến cuộc gặp gỡ đầu tiên với một cô gái người miền Nam, theo đạo Công Giáo, nhân chuyến đi nghỉ mát tại Ðà Lạt vào cuối năm 1932, Ông viết : 

“ Một biến cố khác lại xảy ra, làm cho cuộc đời tôi có sự thay đổi quan trọng : Số là khi tôi vừa từ Pháp trở về, đã có tiếng xì xầm trong hoàng cung để tuyển Hoàng Hậu cho tôi. Ðức Thái Hậu, cũng như các vị thượng quan trong triều ai nấy đều có sẵn người của mình để tiến dẫn. Nhiều lần, tôi đã nhận thấy có sự sóng gió xa xôi, nhưng tôi không để y mấy. Biết rằng về vấn đề này, việc lựa chọn của Vua chỉ có thể đưa vào đề nghị của triều đình, tôi đợi người ta cho những đề nghị rõ ràng. Ngược lại, như tôi đã từng nói, tôi đã quyết định là phá tan chế độ đa thê đang thịnh hành ở Việt Nam. Khi đề cử tôi lên làm Ðông Cung Thái Tử, không có gì là khó khăn, vì tôi là con trai độc nhất của cha tôi, nhưng tôi từng biết, có nhiều tấn bi kịch đẫm máu xảy ra vì chuyện tranh chấp kế vị, nhiều khi có tính cách hèn hạ xấu xa, giữa anh em ruột, hay anh em khác mẹ, mà tôi muốn tránh vết xe đổ ấy. Hai cụ Charles cũng rất quan tâm đến sự tìm cho tôi một người vợ. Họ mong rằng vị Hoàng Hậu này phải có một nền học vấn như tôi. Vì vậy, nhân dịp cuối năm, tôi đi nghỉ mát ở Ðà Lạt vài ngày, con gái của quan toàn quyền Pierre Pasquier cũng nghỉ mát ở đó. Tại đại sảnh đường khách sạn Lang Bian, quan toàn quyền có giới thiệu với tôi một thiếu nữ Việt Nam cùng đi với cụ Bà Charles, cô Marie Thérèse Nguyễn Hữu Hào, con gái nhà điền chủ Nguyễn Hữu Hào, theo đạo Công Giáo, cô này mới mười tám tuổi, vừa mãn khóa ở Couvent des Oiseaux ở Pháp. Sau lần gặp gỡ đầu tiên ấy, thường thường chúng tôi gặp lại nhau một cách bất ngờ. Marie Thérèse rất thích thú ngày du học tại Pháp. Cũng như tôi, có rất yêu âm nhạc và các môn thể thao. Cô có vẻ đẹp yểu điệu của người miền Nam. Trong triều đại của chúng tôi, vì tìm kiếm người vợ cho Vua, hướng nhiều vào con gái miền Nam. Bởi vì, đối với người Trung hay Bắc Kỳ vẫn được coi như “đất hứa”. sau vài lần trò chuyện, một tình cảm êm dịu đã nẩy nở ra giữa chúng tôi, và chúng tôi hứa hẹn sẽ gặp lại nhau” 

Trên đây là nguyên văn bản dịch do Hội Nguyễn Phước Tộc xuất bản Hoa Kỳ, trang 97... 

Sau khi cuộc gặp gỡ tại Ðà Lạt đã được Hoàng Ðế Bảo Ðại nhắc đến trong hồi ký của Ngài, xin trích dẫn nơi trang 98 như sau : 

“ Khi trở về Huế, tôi có kể lại cho mẫu thân tôi chuyện này, và ý định của tôi. Bà không mấy hoan nghênh, khi biết cô theo đạo Công Giáo và cũng Tây học như tôi. Bà muốn rằng tôi nên lấy được người vợ biết tôn cổ, biết đạo tam tòng tứ đức. Mặt khác, bà cũng rất quan tâm về vấn đề giáo dục con cái theo đạo Thiên Chúa. Thế nhưng, đây không phải chỉ là vấn đề hoàn toàn tôn giáo, mà là một vấn đề quốc gia. Bởi vì, nếu trẻ con sinh ra do cuộc hôn nhân này, lại theo đạo Công Giáo, thì nay mai đây, người kế vị lên làm vua, làm sao mà có thể biết phụng thờ tôn miếu, và làm lễ tế Nam Giao? Triều đình cũng rất bỡ ngỡ. các vị Tứ Trụ triều đình bàn cãi sôi nổi. Lần gặp gỡ về sau, với cô Marie Thérèse, tôi ngỏ ý muốn lấy cô, tôi quyết định bất chấp cái thủ tục cổ lổ kia, và sẽ báo cho triều đình ý định này ” 

Về phía Cô Marie Thérèse (Nguyễn Hữu Thị Lan), cô là người theo đạo Công Giáo. Luật đạo không cho cô lấy chồng là người ngoại đạo nếu không được phép của Giáo Hội. Ðây là vấn đề tế nhị, cô phải yết kiến Ðức Thánh Cha tại Vatican để xin phép. Và sự chấp thuận của Giáo Hội cũng kín đáo, không phổ biến ra ngoài, đến nỗi nhiều vị Giám Mục, Linh Mục ở Việt-Nam lúc đó đã cho rằng Nam Phương Hoàng Hậu đã vi phạm luật của Giáo Hội (Theo luật Công Giáo, hai bên nam, nữ phải đến nhà thờ làm lễ thành hôn, nếu khác tôn giáo thì phải có phép của Giáo Hội, phải thề hứa một vợ, một chồng, các con sinh ra phải theo Công Giáo. Ai không tôn trọng luật đó thì bị “dứt phép thông công”, nghĩa là bị khai trừ ra khỏi Giáo Hội (excommunication = tuyệt thông) như vua Henri 8 nước Anh và Napoléon nước Pháp). 

Vua Bảo Ðại đã cam kết với cô : - Giữ luật một vợ, một chồng - Giải tán tam cung lục viện - Phong cho cô làm Hoàng Hậu - Cô được tự do về tôn giáo. 

Nhà Nguyễn từ Gia Long trở về sau, có truyền thống không phong Hoàng Hậu. Ðây là lần đầu tiên, nhà Nguyễn đã phong cho một người làm Hoàng Hậu. 

Ðám cưới của vua : 

Trang 99, vua Bảo Ðại đã viết về đám cưới của Ngài như sau : “ Ngày cưới là ngày 20 tháng 3 năm 1934. Ðám cưới được cử hành trước triều đình và các đại diện của Pháp. Ðó là một vấn đề mới mẻ, vì xưa tới nay chưa bao giờ như vậy. Tôi cũng có quyết định tấn phong ngay cho vợ tôi, tước hiệu là Hoàng Hậu, sau khi cưới, điều mà từ xưa, mẫu thân tôi chỉ được phong sau khi phụ hoàng đã chết. Tôi tấn phong cho vợ tôi là Nam Phương Hoàng Hậu, có nghĩa là “hương thơm của miền Nam”, đồng thời cũng theo một sắc dụ, tôi cho phép Hoàng Hậu được mặc áo màu vàng da cam, vốn chỉ dành riêng cho hoàng đế” 

Theo báo chí thời đó cũng như lời thuật lại của những vị cao niên thì triều đình phải cử đại diện vào Long An, quê của Nam Phương Hoàng Hậu để rước dâu. Dọc đường từ trong Nam ra tới Huế, các địa phương đặt bàn thờ, hương án và quan dân tức trực để đón cho đám rước Hoàng Hậu đi qua. Tiếng pháo chào mừng nổ liên tục từ trong Nam ra tới kinh đô Huế. Trước đây tôi có được xem ảnh của Nam Phương Hoàng Hậu chụp trong ngày bà được tấn phong Hoàng Hậu, ảnh màu rất đẹp. Những hình ảnh đó, có lẽ không bao giờ phai mờ trong ký ức của Hoàng Ðế Bảo Ðại. Nhà vua đã kể lại như sau : “Lễ tấn phong được cử hành ngay ở điện Cần Chánh, là nơi vẫn dùng để thiết đại triều. Trước sân chầu có trải thảm đỏ và vàng, vẫn dùng để Hoàng Ðế bước lên. Các quan triều thần đều tập họp đủ mặt. Hoàng Hậu vận trào phục màu vàng, đầu đội mũ kết trân châu bảo ngọc, đi hia mũi nhọn, tay cầm hốt ngà, từ từ tiến và vào, qua hai hàng quan triều thần chào đón, để tiến tới trước ngai vàng tôi đang ngồi đợi. Ðây là lần đầu tiên trong lịch sử nước tôi, một thiếu nữ đã một mình tiến cung như vậy. Khi đến trước mặt tôi, Hoàng Hậu khấn đầu làm lễ vái ba vái, rồi ngồi sang bên phải tôi, trên chiếc ngai vàng thấp hơn. Lễ tấn phong hoàn tất rất nhanh chóng. Tôi đưa Hoàng Hậu về điện Kiến Trung và ở đấy với tôi. Ðến chiều, Hoàng Hậu tới triều kiến Ðức Hoàng Thái Hậu. Ðức bà rất hoan hỷ và tiếp đón niềm nở. Một kim sách được lập cho Hoàng Hậu, và sắc chỉ tấn phong được đem ra niêm yết ở tòa sắc chỉ” 

Sự kiện Nguyễn Hữu Thị Lan được tấn phong Hoàng Hậu ngay sau cưới là một biệt lệ đối với các bà vợ vua thuộc triều Nguyễn. Vì mười hai đời vua Nguyễn trước kia, các bà vợ Vua chỉ được phong tước Vương phi, đến khi chết mới được truy phong Hoàng Hậu. Nhắc đến cuộc nhân duyên với Hoàng Hậu Nam Phương, cựu hoàng Bảo Ðại đã ghi lại trong cuốn CON RỒNG VIỆT NAM (đã được tác giả Tôn Thất An Cựu viết như sau) :“ Sau lần hội đầu tiên ấy, thỉnh thoảng chúng tôi lại gặp nhau để trao đổi tâm tình. Marie Thérèse thường nhắc đến những kỷ niệm ở trường Couvent des Oiseaux một cách thích thú. Cũng như tôi, Marie Thérèse rất thích thể thao và âm nhạc. Cô ta có vẻ đẹp dịu dàng của người miền Nam pha một chút Tây phương. Do vậy mà tôi đã chọn từ kép Nam Phương, để đặt danh hiệu cho nàng. Các vị Tiên Ðế của tôi cũng thường hướng về người đàn bà miền Nam. Nếu tôi nhớ không sai thì trước Hoàng Hậu Nam Phương, có đến bảy phụ nữ miền Nam đã từng là chủ nhân của hoàng thành Huế. Khi chọn phụ nữ miền Nam làm vợ, hình như các Tiên Ðế và tôi đều nghĩ rằng trước kia đức Thế Tổ Cao Hoàng (tức vua Gia Long) đã được nhân dân miền Nam yểm trợ trong việc khôi phục giang sơn. Chính đó là sự ràng buộc tình cảm giữa Hoàng triều Huế với người dân miền Nam” 

Về phần Hoàng Hậu Nam Phương, bà đã nhắc lại “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” như sau : 

“ Hôm đó Ông Darle, Ðốc Lý thành phố Ðà Lạt gởi giấy mời cậu Lê Phát An tôi (Lê Phát An là anh ruột bà Nguyễn Hữu Hào) và tôi đến dự dạ tiệc ở Hotel Palace. Tôi không muốn đi nhưng câu An tôi năn nỉ và hứa với tôi là chỉ đến tham dự một chút và vái chào nhà Vua xong là về nên tôi phải đi một cách miễn cưỡng và tôi cũng chỉ trang điểm sơ sài thôi. Chúng tôi đến trễ nên buổi tiệc đã bắt đầu từ lâu. Cậu tôi kéo ghế định ngồi ngoài hiên thì Ông Darle trông thấy, Ông ta chạy đến chào chúng tôi rồi nắm tay cậu tôi kéo chúng tôi vô nhà. Vừa đi Ông vừa nói : “Ông và cô phải đến bái yết Hoàng Thượng mới được”. Khi cánh cửa phòng khách vừa mở, tôi thấy vua Bảo Ðại ngồi trên chiếc ghế bành chính giữa nhà. Ông Darle bước tới bên cạnh Vua rồi nghiêng ḿnh cúi chào và kính cẩn nói : - Votre Majesté, Monsieur Lê Phát An et sa nièce, Mademoiselle Marie Thérèse. (Tâu Hoàng Thượng, đây là Ông Lê Phát An và người cháu gái, cô Marie Thérèse). 

Nhờ các nữ tu ở trường Couvent des Oiseaux từng chỉ dạy nên tôi biết phải làm gì để tỏ lòng tôn kính đối với bậc Quân Vương, vì vậy tôi đã không ngần ngại đến trước mặt Hoàng Ðế, quỳ một gối và cúi đầu sát nền nhà cho đến khi thấy bàn tay cậu tôi kéo tôi dậy tôi mới đứng lên. Vua gật đầu chào tôi đúng lúc tiếng nhạc vừa trổi theo nhịp điệu Tango, Ngài ngỏ lời mời và dìu tôi ra sàn nhảy rồi chúng tôi bắt đầu nói chuyện. Về sau, khi đã trở thành vợ chồng, Ngài mới cho tôi biết hôm đó Ngài rất chú ý cách phục sức đơn sơ của tôi. Tôi nghĩ rằng tôi được nhà Vua lưu ý một phần do trong suốt buổi dạ tiệc chỉ có tôi là người đàn bàViệt Nam duy nhất nói tiếng Pháp và theo đúng cung cách lễ nghi Âu Tây đối với Ngài”. 

Ðược biết Hoàng Hậu Nam Phương đã sống với Vua Bảo Ðại và sanh được 5 quý tử như đã dẫn, từ khi có các con Bà thường chăm sóc và dạy dỗ cho các con nên người. Sau khi vua Bảo Ðại thoái vị, bà sang Pháp sống với các con cho đến trút hơi thở cuối cùng tại làng Chabrignac, một vùng quê thuộc miền Bắc nước Pháp theo như lời thuật lại sau đây : Ngày 14 tháng 9 năm 1963, vào ngày 5 giờ chiều, cựu Hoàng Hậu Nam Phương cảm thấy mệt bèn cho người nhà đi mời bác sĩ đến thăm mạch. Sau khi chẩn khám, bác sĩ cho biết bà bị viêm họng nhẹ, chi uống thuốc vài hôm là khỏi. Nhưng không dè, bác sĩ vừa rời khỏi nhà chừng vài tiếng đồng hồ thì bà cảm thấy khó thở. Người nhà bèn nhờ một người bác sĩ khác, nhưng người bác sĩ thứ hai chưa đến kịp thì cựu Hoàng Hậu Nam Phương đã êm ái lìa đời ngay trong đêm đó khi vừa tròn 49 tuổi. Ngoài hai người giúp việc trong nhà, không có một người ruột thịt nào có mặt bên cạnh bà trong giờ phút lâm chung, vì các con bà đều ở tận Paris để làm việc và đi học. Ðám tang của bà cựu Hoàng Hậu Việt Nam lưu vong được tổ chức một cách sơ sài lặng lẽ như những năm tháng cuối đời của bà. Hôm đưa đám, ngoài hai Hoàng Tử và ba Công Chúa đi bên cạnh quan tài của mẹ không có một bà con nào khác. Về phía quan chức Pháp thì chỉ có Ông quan đầu Tỉnh Brive la Gaillarde và Ông Xã Trưởng Chabrignac. Trong suốt thời gian tang lễ cựu Hoàng Bảo Ðại cũng không có mặt, mà sau này kẻ viết bài này trong thời gian ở Pháp được nghe kể lại, thì khi hay tin mẹ chết, Công Chúa Phương Liên tức tốc đánh điện tín báo tin cho cựu Hoàng, nhưng gặp lúc cựu Hoàng vắng nhà vì bận đi chơi xa với Bà Mộng Ðiệp, vì vậy mà cựu Hoàng Bảo Ðại không hay biết gì, nên đã vắng mặt trong ngày đám táng của một người mà có thời đã cùng Ông đầu ấp tay gối. Sự kiện đó đã gây sự hiểu lầm khiến về sau các Hoàng Tử và Công Chúa đã ôm lòng oán hận người cha mà họ nghĩ là một người chồng không trọn nghĩa thủy chung! Trong lần trở lại Pháp vào tháng 4 năm 1999, do đề nghị của một người bạn thường giao thiệp với Hoàng Tử Bảo Long, từ Paris tôi theo người bạn đi về làng Chabrignac, cách Tỉnh Brive la Gaillarde ba mươi cây số để viếng mộ Hoàng Hậu Nam Phương. Gió chiều nghĩa trang lồng lộng thổi, trước mắt tôi là một ngôi mộ đơn sơ với tấm bia đá hai mặt ghi hai hàng chữ tiếng khác nhau, mặt trước viết chữ Hán, mặt sau viết chữ Pháp như dưới đây: Bìa chữ Hán : Ðại Nam Nam Phương Hoàng Hậu Chi Mộ, có nghĩa là : “Mộ phần của Bà Hoàng Hậu nước Việt Nam”Bìa chữ Pháp : ICI REPOSE l'impératrice d'Anam Née Marie Thérèse Nguyen Huu Thi Lan, có nghĩa là : “Ðây là nơi an nghĩ của Bà Hoàng Hậu Việt Nam tên là Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan”... v.v. Ngoài ra, tôi đã được học giả Hương Giang Thái Văn Kiểm đề tặng quyển Việt Nam Anh Hoa vào dịp lễ Quốc Khánh Pháp, ngày 14 tháng 7 năm 2001 vừa qua, do Làng Văn ấn hành, trong đó có bài viết Vua Hàm nghi và Nam Phương Hoàng Hậu, bài này có liên quan từ bịnh cho đến từ trần của cựu Nam Phương Hoàng Hậu, xin trích dẫn để quý bà con đồng hương tường lãm như sau : ”... Kế cận lâu đài này có một nông trại khác mang tên”Domaine de la Perche” do Hoàng Hậu Nam Phương mua với tài chánh riêng Bà, vốn giàu có từ trước. Nông trại này không có lâu đài, nhưng chỉ có một ngôi nhà dài khá lớn, hơn 30 phòng, chung quanh là vườn Nho và cây ăn trái như Cam Lê và Táo, xen kẻ với vườn hoa đủ màu thi nhau nẩy nở. Bà Nam Phương đã cho mua cơ sở xinh đẹp này từ năm 1958. Lúc Bà Bá Tước Như Lý de la Besse hay tin này, Bà ấy làm ngạc nhiên, nhưng không hỏi hoặc thăm viếng Bà Nam Phương, có lẽ vì một bà thuộc giòng Vua cách mạng, một bà thì thuộc giòng Vua thân Pháp. Tuy gần nhà mà xa cửa ngõ, suốt 5 năm trời hai Bà không hề gặp nhau. Mãi cho tới năm 1963 Bà Nam Phương lâm bệnh nặng vì một cơn nghẹt thở (diphtérie) rất ngặt nghèo, khiến Bà phải trút linh hồn tại nhà bà trong nông trại La Perche (Cá Mang Giổ), nhằm ngày 14 tháng 9 năm 1963, lúc Bà mới có 49 tuổi! Vua Bảo Ðại và các Hoàng Tử Bảo Long, Bảo Thăng, các Công Chúa Phương Mai, Phương Liên và Phương Dung, các quan chức địa phương đều có mặt. Và đặc biệt nhất là lần này bà Như Lý (con Vua Hàm Nghi) là láng giềng, cũng sang dự đám tang. Lễ được long trọng cử hành tại nhà thờ Chabrignac. Xong lễ, quan tài được đưa ra nghĩa địa gần bên mai táng, dưới tấm bia cẩm thạch khắc phương danh : 

Ici repose l'Impératrice d'Anam, née Jeanne- Mariette 
Nguyễn Hữu Hào (4-12-1914 - 15-9-1963) 

Tên thông thường của bà Nam Phương là Nguyễn Thị Lan. 

Mùa Thu năm ấy (1993) hoa rơi lá rụng đầy đường như nhớ thương người tài hoa bạc mệnh, khách viễn du từ Paris xuất hành trong cảnh vật đổi sao dời theo chim ô thước Nam Phi, đã tìm về nơi đồng quê nước Pháp, chen lẫn với núi rừng, hang động âm u, khắc họa hình hài người và vật thời tiền sử Lascaux, ẩn giấu biết bao di tích của tiền nhân, cùng với tinh hoa của giống nòi Lạc Việt lạc bước nơi Tây Phương, mà chưa tìm ra lối về quê hương trăm thương ngàn nhớ ! 

Trong lúc viếng thăm mộ địa của người xưa đã in dấu tích đậm đà trong lịch sử Việt Nam, khách viễn du ngậm ngùi hướng tâm tư về những người đã âm thầm tạo nên lịch sử ấy, đồng thời cảm xúc ghi lại hai câu thơ than vắn thở dài của Tùng Thiện Vương và nữ sĩ Tương Phố : 

Tóc bạc gấm mây sầu xã tắc, 

Nước loạn canh tàn khóc bể dâu! 

Trích dẫn hai tài liệu trên đây, nhằm để quý bà con biết được cựu Hoàng Hậu Nam Phương, thọ 49 tuổi, sau khi bị bịnh ngặt nghèo bất thần rồi từ trần ngày 14 tháng 9 năm 1963 tại nhà ở nông trại La Perche, thuộc Xã Chabrignac, Tỉnh Brive la Gaillarde và được mai táng ngày hôm sau tức 15 tháng 9 năm 1963. 

Trở lại, mối tình vương giả của Vua Bảo Ðại với Hoàng Hậu Nam Phương, tôi đã đọc được bài viết của Ông Nguyễn Nam Phổ, đăng trong nội san Thu Ðông tháng 11 năm 1999 do Hội Ái Hữu Trung Học Trương Vĩnh Ký Paris phát hành, xin trích dẫn từ trang 30 đến trang 32 như sau : 

Tài liệu 1 : Năm 1932, sau khi du học tại Pháp, Hoàng Ðế Bảo Ðại hồi loan chấp chánh, có một thiếu nữ con nhà khuê các đồng hành trên chuyến tàu d'Artagnan. Ðó là, cô Mariette Jeanne Nguyễn Thị Hữu Lan, ái nữ Ông Pierre Nguyễn Hữu Hào và là cháu ngoại Ông Huyện Sĩ, kêu Ông Lê Phát An bằng cậu ruột. Cô LAN học trường Couvent des Oiseaux bên Pháp, vừa đậu tú tài toàn phần về thăm quê hương nhân dịp nghỉ hè. Có người cho biết, chính cựu Khâm Sứ Trung Kỳ CHARLES cha đở đầu của Hoàng Ðế Bảo Ðại đã sắp xếp để Cô LAN đi cùng chuyến tàu với nhà vua. Khâm Sứ CHARLES là bạn thân lâu đời của gia đình Pierre Nguyễn Hữu Hào. Sau một tháng lênh đênh trên biển cả, tàu d'Artagnan cặp bến Vũng Tàu (Cap St Jacques). Cô LAN được đại gia đình xuống đón, riêng Hoàng Ðế Bảo Ðại thì sang chiến hạm Dumont D'Urville để ra Ðà Nẵng (Tourane). Một tháng sau, Ông Bà Khâm Sứ CHARLES đưa Hoàng Ðế Bảo Ðại lên Ðà Lạt dự tiệc để gặp cô gái xinh đẹp và quí phái. 

Tài Liệu 2 : Mùa hè năm 1932, sau khi đổ tú tài toàn phần, Cô Nguyễn Thị Lan ái nữ của Ông Nguyễn Hữu Hào, bên Pháp về nghỉ hè. Dịp này, Ông Lê Phát An sắp xếp với Toàn quyền P.Pasquier để vua Bảo Ðại và cô Lan gặp nhau trong dạ tiệc do Khâm Sứ Trung Kỳ khoản đãi. Khách quý gồm Hoàng Ðế Bảo Ðại vừa hồi loan cùng hàng trăm tiêu thơ khuê các con gái của các quan đại thần trong triều đình, tìm cách ra mắt để được tiến cử. Cô Nguyễn Thị Hữu Lan cùng cậu là Ông Lê Phát An tới khách sạn rất sớm, Cô Lan ngồi chơi trên bãi cỏ trước khách sạn. Khi Hoàng Đế Bảo Đại và đoàn tùy tùng đi ngang, Cô Lan đứng dậy chào theo phép xã giao tây phương. Sững sờ trước vẻ đẹp quí phái và dáng dấp thanh lịch của cô gái, Hoàng Ðế Bảo Ðại dừng lại hỏi chuyện. Sau đó hai người tiếp tục trò chuyện suốt buổi dạ tiệc, cùng nhau khiêu vũ và mối tình nẩy nở từ đó. 

Xin lưu ý : Ngày xưa triều Nguyễn không đi hỏi và cưới vợ, chỉ có con gái của các vị đại thần tiến cử mà thôi. Vì vua là thiên tử không quỳ lại một ai. 

Cuộc hôn nhân giữa Hoàng Ðế Bảo Ðại và Cô Nguyễn Thị Hữu Lan lúc đầu gặp trở ngại vì hoàng tộc, nhứt là Ðức Từ Cung, Hoàng mẫu của Hoàng Ðế không tán thành. Lý do phản đối là vì Cô Lan có đạo Thiên Chúa, sợ rằng khi trở thành Hoàng Hậu sẽ không chịu thờ phụng các tiên đế. Cuối cùng vụ này cũng được giải quyết thỏa mãn. Ðức Giáo Hoàng chấp thuận cho Cô Lan kết hôn với Hoàng Ðế Bảo Ðại một người khác tôn giáo. Ai giữ đạo nấy, nhưng các con sinh ra phải được rửa tội. Sau hôn lễ, Hoàng Ðế Bảo Ðại phong cho Ông Lê Phát An tước An Ðịnh Vương và nhạc phụ Ông Pierre Nguyễn Hữu Hào tước Long Mỹ Quận Công. Ðây là lần cuối cùng của nhà Nguyễn phong cho một người xuất thân từ hàng dân giả. 

Xin lưu ý : Kể từ vua Minh Mạng về sau, chức tước Hoàng Hậu bị bãi bỏ, vì sợ tiếm ngôi nên vua Minh Mạng đặt ra “ngũ bất lập” là : 1.- Bất lập Hoàng Hậu. 2.- Bất lập Ðông Cung. 3.- Bất lập Tể Tướng. 4.- Bất phong Vương Tước. 5.- Bất tuyển Trạng Nguyên. 

Từ đó, cấp bậc các bà vợ vua được chia làm “cửu giai” cũng như các cấp bậc của ngạch quan lại được chia làm “cửu phẩm”. Người đứng đầu trong cửu giai là Hoàng Quý Phi, đến đời vua Bảo Ðại mới lập lại chức vị Hoàng Hậu tức là “Nam Phương Hoàng Hậu”. Phương ngữ này, trong Nam Việt Nam thường nghe các cụ bô lảo hay nói những nhà giàu có bậc nhứt, nhì, ba, tư : 1.- Huyện Sĩ, 2.- Tổng Ðốc Phương, 3.- Bá hộ Xường tức là Lý Thành Nguyên, 4.- Vua Khải Ðịnh. Nói tắc lại : Nhứt Sĩ, nhì Phương, tam Xuờng, tứ Ðịnh (không biết có phải như vậy không? Quý vị nào biết rõ hơn, xin vui lòng bổ túc cho được đầy đủ)... 

Hoàng Ðế Bảo Ðại là vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, do ảnh hưởng của đời sống và văn hóa tây phương, đã thay đổi hẳn cách ăn uống cũng như nghi lễ phức tạp cổ truyền và không khí gia đình trong bửa ăn được đặc biệt chú ý. Nhà vua cũng ngồi ăn chung với Hoàng Hậu Nam Phương và các Hoàng Tử cùng Công Chúa. Ðây quả thật là một cuộc canh tân lớn chưa từng có trong hoàng tộc các vua chúa đời xưa... 

Như chúng ta đã biết, trong quyển Con Rồng Việt Nam của Vua Bảo Ðại, do Ông Tôn Thất An Cựu viết, mà tôi đã trích dẫn ở trước ”... Nếu tôi nhớ không sai thì trước Hoàng Hậu Nam Phương, có đến bảy phụ nữ miền Nam đã từng là chủ nhân của Hoàng thành Huế ...” 

Ðể hiểu biết thêm tận tường những phụ nữ miền Nam được tiến cung, xin trích dẫn từ trang 30 đến trang 31, bài viết của Ông Nguyễn Nam Phổ được đăng trong Nội San Xuân 2001 của Hội Ái Hữu Trung Học Trương Vĩnh Ký Paris phát hành như sau : 

Tám Vị Phụ Nữ Miền Nam Việt Nam Trong Cung Ðình Huế 

Sau khi bị quân Tây Sơn truy đuổi, Thái Tử Nguyễn Ánh phải bôn tẩu ra Phú Quốc chiêu binh mãi mã với ý chí phục quốc. Nhờ những di dân gốc miền Trung trước kia theo chân các Chúa Nguyễn vào Nam, khai khẩn đất hoang lập làng lập ấp, hưởng ứng lời kêu gọi, nên chẳng bao lâu Thái Tử Nguyễn Ánh tập hợp được lực lượng khá hùng mạnh, để từ đó cho đến 25 năm sau đánh chiếm Quy Nhơn, rồi Thuận Hóa, thống nhứt sơn hà và tức vị lên ngôi Hoàng Ðế năm 1802. Là một nhân vật đa tài văn võ kiêm toàn, nhưng cũng rất đa tình, vị Vua sáng lập triều NGuyễn có hai mươi mốt bà vợ, nhưng có một điều rất lạ là một người tài hoa lỗi lạc và đam mê như Thái Tử Nguyễn Ánh mà suốt 25 năm lặn lội ở miền Nam, gần gũi các cận thần người Nam như các Ông : Nguyễn Huỳnh Ðức, Lê Quang Ðịnh, Phạm Ðăng Hưng ... v.v. Ngài lại không có mối tình nào gắn bó ở miền Nam, nơi đã cưu mang mình và cũng chính nhờ đất và người miền Nam, Ngài đã thành công viên mãn và dựng nên cơ nghiệp lớn lao. 

Trái lại, hậu duệ của Ngài là vua MINH Mạng ở tại miền Trung, trong khi đã có nhiều bà vợ lại có bốn phụ nữ miền Nam được tiến cung để hầu hạ mình rồng là các bà : 

1.- Tả Thiên Nhân Hoàng Hậu Hồ Thị Hoa (1791 - 1801), người Huyện Bình An, Tỉnh Biên Hòa. Con gái của Phúc Quốc Công Hồ Văn Bôi. Vì tên Bà là Hoa, cho nên những gì có chữ HOA đều phải nói trại ra. Chẳng hạn cầu HOA ở Gia Ðịnh phải gọi là cầu BÔNG. Cửa Ðông Hoa ở Huế phải gọi là cửa Ðông Ba. Tuồng hát bội Phàn Lê Hoa phải đổi thành Phàn Lê Huê ... v.v Bà Hoàng Hậu này không có con. 

2.- Thục Tấn Nguyễn Thị Bảo (1801 -1851), người Gia Ðịnh. Con của Ông Quan Tư Không Nguyễn Khắc Thiệu. Bà sinh hạ được một Hoàng Tử là Miên Thẩm (1818-1904) và ba Công Chúa là Vĩnh Trinh (1816-1892), Trinh Tân (1824-1904) và Tỉnh Hòa (1830-1882). Về sau cả bốn người con này đều trở thành những nhà thơ nổi tiếng ở thần kinh với các biệt hiệu : Tùng Thiện Vương, Quy Ðức, Mai Am và Huệ Phố, đã để lại cho đời nhiều bài thơ rất giá trị. 

3.- Hoà Tấn Nguyễn Thị Khuê tự Bích Chi, người Huyện Phú Lộc, Tỉnh Gia Ðịnh; Con gái quan Chưởng Cơ Nguyễn Văn Thanh, trấn thủ Tỉnh Quảng Nam. Bà sinh được bốn Hoàng Tử và sáu Công Chúa. 

4.- Cung Tần Nguyễn Thị Xuân, người Gia Ðịnh. Con gái Chinh Ðội Nguyễn Văn Châu. Bà sinh được một Hoàng Tử là Miên Ký, người giỏi văn chương dưới triều Tự Ðức, được phong tước Cẩm Quốc Công Hậu duệ vua Minh Mạng là vua Thiệu Trị có ba bà vợ người miền Nam là : 

1.- Hoàng Thái Hậu Từ Dũ (1810-1901) tức là Bà Phạm Thị Hằng tự Nguyệt (theo Việt Nam Tự Ðiển của Lê Văn Ðức viết Phạm Thị Hàng tự Hào), người Huyện Tân Hòa, Tỉnh Gò Công. Con quan Lễ Bộ Thượng Thơ Phạm Ðăng Hưng. Bà là người hiền thục, đoan trang nên được Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu tuyển vào cung làm vợ cho Hoàng Tử Miêng Tông tức vua Thiệu Trị sau này. Bà sinh được hai Công Chúa và một Hoàng Tử là Hồng Nhậm tức vua Tự Ðức sau này. Bà sống qua 10 đời vua, kể từ Gia Long là thời gian Bà chào đời cho đến lúc băng hà năm 1901 đời vua Thành Thái năm thứ 13. Một Bà Hoàng đã chứng kiến nhiều sự việc lịch sử xảy ra trong cung đình cũng như trên đất nước. 

2.- Lệnh Phi Nguyễn Thị Nhâm, người An Giang. Con của Quận Công Nguyễn Văn Nhân. Bà Nhâm được tuyển vào cung cùng một thời gian với Bà Phạm Thị Hằng, nhưng vì Bà chỉ sinh hạ một Hoàng Nữ là An-Thạnh Công Chúa, nên chỉ đưọc phong tước Lệnh Phi. 

3.- Ðức Tần Nguyễn Thị Huyền, người miền Nam nhưng gốc Thừa Thiên. Con của Cai Cơ Nguyễn Ðức Xuyên. Bà sinh được một Hoàng Tử là Hồng Diêu (1845-1875) là Hoàng Tử thứ 25 của vua Thiệu Trị. 

Hậu duệ vua Thiệu Trị là vua Tự Ðức có một Bà vợ miền Nam là Học Phi Nguyễn Thị Hương, người Vĩnh Long. Bà không có sinh được con nên nhận công tử Ưng Hạo tự Ðăng, sinh năm 1870, con Mệ Hường Cai làm con nuôi. Sau khi vua Tự Ðức băng hà , Ưng Hạo được tôn làm vua tức vua Kiến Phúc. 

Người phụ nữ miền Nam sau cùng vào cung đình Huế là Bà Nguyễn Hữu Thị Lan (1941-1963), người Gò Công. Con của đại điền chủ Nguyễn Hữu Hào. Bà là Hoàng Hậu sau cùng triều Nguyễn... 

Tám vị phụ nữ miền Nam trong cung đình triều Nguyễn, như đã kể trên đây, thì Bà Từ Dũ được sử sách nhắc nhở đến nhiều nhất, vì Bà là người có nhiều ảnh hưởng đối với các vua : Thiệu Trị, Tự Ðức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi. Trong số các phi tần, Bà được Hoàng Tử Miên Tông khi lên ngôi vua, phong làm Chánh Phi và được phép ngồi phía sau bức màn nghe những lời vua bàn bạc với các Quan Ðại Thần. Ngoài việc giúp vua về chánh trị, Bà còn trông nom sắp đặt mọi việc trong cung với tư cách một nữ quan cao cấp. Bà rất nhân từ với các phi tần dưới quyền, không bao giờ ganh tỵ hay đố kỵ và thương yêu con của các phi tần khác như chính con của Bà, nên vua Thiệu Trị thường ban lời khen ngợi. Theo sách “Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện” thì trước khi băng hà, vua Thiệu Trị đã nói với các đại thần : Quí Phi là nguyên phối của Trẫm, công, dung, ngôn, hạnh rất mực đoan trang, phước đức hiển minh, sau này con cháu ắt hưởng phúc dài lâu, lại tận tụy giúp Trẫm trong bảy năm cầm quyền. Ý trẫm muốn sắc lập Hoàng Hậu cho chính vị trong cung, nhưng tiếc thay chưa kịp. Vì vậy, năm 1848 vua Tự Ðức làm lễ tấn tôn Bà là HoàngThái Hậu. Bà Từ Dũ Hoàng Thái Hậu mất ngày mùng năm, tháng tư năm Tân Sửu (1901), năm Thành Thái thú 13, thọ 93 tuổi. Bà được an táng bên phải lăng vua Thiệu Trị (Bệnh viện sản khoa ở đường Cống Quỳnh Sàigòn được đặt tên Từ Dũ là để ghi nhớ công đức của Hoàng Thái Hậu Từ Dũ Ðúng ra tên hiệu của Bà là Từ Dụ, theo nghĩa chữ Hán là Nhân từ và Ðộ lượng. Nhưng về sau, không hiểu do một sự lầm lẫn nào đó, người ta viết chũ Dụ thành Dũ và trở thành thói quen không thay đổi ?). 

Ðể hiểu thêm cuộc đời của Bà Nam Phương Hoàng Hậu, chúng ta đã thấy Bà sanh ngày 17 tháng 10 âm lịch, năm Giáp Dần, nhằm ngày thứ sáu, 4 tháng 12 dương lịch năm 1914 và Bà từ trần lúc giờ Dậu, ngày 27 tháng 7 âm lịch, năm Quý Mão, nhằm ngày thứ bảy, 14 tháng 9 dương lịch năm 1963 khoảng 5 giờ chiều. Căn cứ tổng quát dành cho những người có năm sanh 1914 Giáp Dần như Bà, có hành thuộc Ðại Khê Thủy tức mạng Thủy và theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của Ngũ Hành, tuổi Giáp Dần, có Can tức Trời là Giáp thuộc hành Mộc và có Chi tức Ðất là Dần cũng thuộc hành Mộc. Do vậy, người có tuổi Giáp Dần như Bà, có cùng hành Mộc, xem như Trời và Ðất tương hòa, tương đắc với nhau, cho nên những người có tuổi Giáp Dần thuộc phái Nam rất vững vàng cho sự sống của cuộc đời, bởi vì tuổi Giáp Dần này thuộc Dương. Trái lại, những người có tuổi Giáp Dần thuộc phái Nữ như Bà, thì không thuận hạp như phái Nam, từ đó cuộc đời của những người phái Nữ không được ổn định như ý. 

Về màu sắc thì người tuổi Giáp Dần nên dùng là màu Vàng chen lẫn màu Ðỏ. Trái lại, màu xanh lá cây rất khắc kỵ. 

Vì thế, cuộc đời của Bà khi sống trong Hoàng Thành Huế với Vua Bảo Ðại rất thuận hạp vương lên, bởi vì trong cung điện thường dùng đa phần dùng màu Vàng và màu Ðỏ. 

Khi Bà sang Pháp, Bà lập nông trại để trồng các loại trái cây đủ loại và nhiều hoa kiểng rất đẹp. Nhưng khổ thay! xung quanh Bà rất nhiều màu xanh lá cây, là màu độc hại khắc kỵ với tuổi Giáp Dần của Bà. 

Ngoài ra, Bà lập gia đình với Vua Bảo Ðại, sanh năm 1913 Quý Sửu, có hành thuộc Tang Ðố Mộc tức mạng Mộc và căn cứ theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của Ngũ Hành, thì Bà tuổi Giáp Dần sanh năm 1914 kết hợp với tuổi Quý Sửu sanh năm 1913, thì được tương sanh rất tốt cho đôi vợ chồng, vì không bị khắc kỵ. Nhưng khổ thay! Người tuổi có mạng Thủy sanh người tuổi có mạng Mộc. Vì, mạng Thủy bị sanh xuất và mạng Mộc được sanh nhập. Vì thế, tuổi của Bà không được tốt, mà chỉ làm lợi cho Vua Bảo Ðại, để rồi Bà không thể chống lại số mạng, một đời tài hoa trọn vẹn thủy chung với chồng, nhưng bạc mệnh của Bà. Ðó là, tuổi tổng quát dành cho những người có tuổi Giáp Dần như Bà Nam Phương Hoàng Hậu. 

Xuyên qua những dẫn chứng vừa qua, để tạm kết thúc bài này, có thể tóm lược như sau : Bà Nam Phương Hoàng Hậu có tên thánh Marie Thérèse, họ Nguyễn, húy danh Thị Lan, con nhà Nguyễn Hữu, thân phụ của Bà là Long Mỹ Quận Công Nguyễn Hữu Hào. 

Bà sanh ngày 17 tháng 10 âm lịch, năm Giáp Dần, nhằm ngày thứ sáu, 4 tháng 12 dương lịch năm 1914, quê quán Gò Công thuộc Tỉnh Long An, miền Nam Việt-Nam. 

Năm Ðinh Mão (1927) Bà sang Pháp khi được 13 tuổi (có báo viết năm 1926 Bà sang Pháp khi được 12 tuổi, không biết hư thật thế nào?), để học tại trường Couvent des Oiseaux ở Paris. 

Mùa Hè năm Nhâm Thân (1932) sau khi đậu tú tài, Bà trở về nước, có người cho biết, chính cựu Khâm Sứ Trung Kỳ CHARLES cha đở đầu của Hoàng Ðế Bảo Ðại đã sắp xếp để đi cùng chuyến tàu với vua Bảo Ðại. Khâm Sứ CHARLES là bạn thân lâu đời của gia đình Pierre Nguyễn Hữu Hào. Sau đó, gặp vua Bảo Ðại trong chuyến nghỉ mát ở Ðà Lạt. 

Ngày 6 tháng 2 năm Giáp Tuất (20-3-1934) bà tấn cung vào ở điện Kiến Trung, (có sách viết ở điện Cần Chánh, không biết hư thật thế nào?). Ngày 10 tháng 2 năm Giáp Tuất (24-3-1934) được phong là Nam Phương Hoàng Hậu, có nghĩa là “hương thơm của miền Nam”, lễ tấn phong được cử hành long trọng tại điện Dưỡng Tân. 

 

  

4/ Ông Phan Thanh Giản là nhân Tài Đạo Đức, Cương trực,

Thanh Liêm,  Trung Quân Ái Quốc và Thương Dân

đáng được Tôn kính Vinh Danh và Ngưỡng Mộ.


Hàn Lâm Nguyễn Phú Thứ

Được biết, vua Tự-Đức (1847-1883), là con thứ hai của Vua Thiệu-Trị và Bà  Hoàng Thái  Hậu Từ Dũ, mất ngày 14 tháng 6 năm Quý Mùi nhằm ngày 17 tháng 7 năm 1883, trị vì 36 năm, thọ 55 tuổi.Vua Tự-Đức là vị vua thông minh, hiền lành, hiếu học, siêng năng và rất hiếu thảo với mẹ, được nhắc nhở như sau:

Trải qua 36 năm làm Vua trên ngai vàng, lúc nào cũng dành ngày chẵn vào cung để vấn an sức khỏe mẹ, đồng thời nghe lời truyền bảo của mẹ, nếu có điều gì quan trọng đáng lưu tâm thì ghi ngay vào quyển sổ tùy thân mà nghiền ngẫm. Đó là, quyển sổ từ huấn lục (tức quyển sổ chép lời mẹ dạy).  Xem thế, đủ biết Vua Tự-Đức thờ mẹ rất chí hiếu bực nào.

Do vậy, khi giặc Pháp đã chiếm được lục tỉnh thuộc Nam Kỳ lúc bấy giờ, trong lãnh thổ này có quê hương của Bà Từ Dũ, làm cho nhà Vua rất tức giận và trút hết tội tình lên một vị quan văn trung-thần ái quốc là Ông Phan-Thanh-Giản, mà không xét lỗi mình là Ông Vua của một nước có quân, có quyền trong tay và lại có hành-xử chủ hòa với giặc Pháp? ...

Như thế, ở đời chúng ta nên: "Xét lỗi mình trước khi xét lỗi người" có vậy mới thấy trung thực của mọi vấn đề. Đó là bài học đáng quý vậy!

Khi nhắc đến Ông Phan Thanh Giản, không thể tạm ngưng ở đây, để tìm hiểu thêm, xin trích dẫn quyển Tìm Hiểu Các Danh Nhân của Nguyễn Phú Thứ từ trang 65 đến trang 84 như sau :

Phan-Thanh-Giản


Ông Phan-Thanh-Giản, có  tên  chữ  là Tịnh Bá và Đạm, hiệu là Lương-Khê, biệt hiệu là Mai-Xuyên, sinh vào giờ Thìn, ngày 12, tháng 10 thuộc Hợi, năm Bính Thìn tức năm 1796 dương-lịch, thuộc đời vua Cảnh-Thịnh Nguyễn-Quảng-Toản (1792-1802). Con của Ông Phan-Thanh-Xáng, tự Văn-Ngạn, hiệu Mai-Thư tiên sinh, rất giỏi chữ nho, đến Vĩnh Long làm thơ lại cho Nam triều, thưòng lãnh nhiệm-vụ tãi lương-thực về Huế. Và con của Bà Lâm-Thị-Phần (có sách nói tên Lâm-Thị-Bút, người huyện Bảo-An). Ông nội của Ông Phan-Thanh-Giản là Ông Phan-Thanh-Tập tự Đào-Ấn hiệu Ngẫu-Cư tiên sinh và Bà nội là Bà Huỳnh-Thị-Học. Tổ tiên Ông là người Trung-Hoa đến cuối đời nhà Minh mới sang nước Việt-Nam, trước ở Bình-Định, đến lúc Tây-Sơn nổi dậy, thân sinh Ông chạy xuống Định-Tường, rồi đến xã Bảo-Thạnh, quận Bảo-An,Tỉnh Bến-Tre (Kiến-Hòa trước kia).Lúc Ông được 7 tuổi, mẹ mất sớm, được người cha gởi sang bên ngoại ở làng Phú Ngãi, để ăn học vở lòng với nhà sư Nguyễn-Văn-Noa, đến năm 1816 Ông theo học trường tỉnh Vĩnh-Long. Việc học-hành của Ông  lại gặp trở ngại, vì cha bị vu cáo nên bị ở tù tại Vĩnh-Long. Ông  xin  ở  tù  thay cha, nhưng không được chấp- thuận. Các quan thuở ấy thấy Ông nhỏ tuổi mà là một đứa con hiếu-thảo, lại có đức-hạnh và thông-minh, nên các quan nâng-đỡ cùng khuyên Ông nên cố-gắng học-hành để tiến thân.Năm Ất-Dậu 1825, Ông đâu Cử-Nhơn tại Gia-Định và năm sau ra Huế thi Hội và thi Đình, Ông đậu đệ tam tiến-sĩ đầu tiên tại Nam Kỳ (Khoa thi Hội năm 1826 có khoảng 200 cống sĩ, nhưng kết quả chỉ có 10 người đậu, gồm : 7 người  ở Bắc-Kỳ, 2 người  ở Trung-Kỳ và 1 người  ở Nam  Kỳ là Ông được đứng vào hạng thứ 3 trong số 10 người, cho nên được gọi Ông là "Đệ Tam Giáp Tiến Sĩ "). Sau đó, Ông cưới vợ Cần-Giuộc, rồi được bổ-nhậm chức Biên-Tu ở Hàn-Lâm-Viện kinh đô Huế, vài tháng sau đổi ra Quảng-Bình. Rủi thay người vợ trẻ ở Cần-Giuộc mất sớm vì bịnh, nên Ông tục-huyền với Bà Trần-Thị-Hoạch ở Quảng-Trị, sống chung nhau chưa bao lâu, để báo hiếu với  cha, Ông  cho  vợ  về  Kiến-Hòa để phụng dưỡng cha già. Người vợ là người đức-hạnh nên buộc lòng hy-sinh việc "xuất giá tùng phu", nghe lời chồng, cho nên khi Ông khi tiễn đưa vợ hiền về Nam Kỳ đã làm bài thơ kiệt-tác như sau :

Từ thuở vương xe mối chỉ hồng,                   
Lòng nầy tạc dạ có non sông,                  
Đường mây cười tớ ham dong ruổi,                   
Trướng liễu thương ai chịu lạnh lùng,                   
Ơn nước nợ trai đành lỗi bận,                   
Cha già, nhà khó cậy nhau cùng,                   
Mấy lời dặn bảo cơn ly biệt,                   
Rằng nhớ, rằng quên, lòng hởi lòng!.
    

Riêng bà Trần-Thị-Họach, không những đồng-ý thay chồng để báo hiếu, mà còn sẵn sàng muốn có người hầu hạ cho chồng khi bà xa vắng, nên dẫn người tỳ thiếp tên Thịnh để giúp chồng, bị Ông quyết liệt từ khước và bảo người tỳ thiếp trở về, Bà Thịnh cảm cái nghĩa của Ông, nên về sau không lấy chồng, mà ở với Bà Hoạch cho tới già tại làng Bảo Thạnh, quận Bảo-An, Tỉnh Bến-Tre. Ngoài ra, khi Ông ra làm quan không bao giờ tỏ ra kiêu-hãnh "áo gấm về làng" bằng cách mỗi lần trở về quê thăm lại các quan ở Vĩnh-Long, thăm các thầy, thăm các bạn lúc nào nhã-nhặn lễ phép, không phô-trương ta đây là quan lớn ở triều-đình, Ông mặc áo như người thường dân. Đời sống Ông rất mực-thước, giản-dị, thanh-liêm, Ông dành nhiều thì giờ cho công-vụ và đọc-sách làm vui, cũng vì thế trong 41 năm làm quan, ít khi trở về thăm lại quê-hương của Ông, có lẽ vì đường sá quá xa xôi, việc nghỉ phép khó-khăn, đặc-biệt có lần về nhà cư tang cha vào năm 1843 và ngược lại bà Hoạch cũng thỉnh-thoảng mới ra thăm Ông tại nhiệm-sở.

Về đường quan lộ của Ông rất thăng trầm trong nhiều chức vụ qua các lãnh vực khác nhau, trải qua 3 triều đại : Minh-Mạng, Thiệu-Trị và Tự-Đức, xin trích dẫn như sau : Giai-đoạn 1826-1859, Ông lận-đận, thăng-trầm trên đường hoan lộ nhiều lần, ví như  tháng 8 năm 1826 thuộc vua Minh-Mạng thứ 6, Ông giữ chức Biên Tu ở  Hàn Lâm Viện, rồi  được  thăng  chức  Lang  Trung  Bộ Hình, kế đến Tham Hiệp ở  Quảng-Bình, quyền Hiệp-Trấn  Nghệ- An và sau đó làm Hiệp-Trấn Quảng-Bình. Năm sau tức 1827 Ông được về triều-đình để nhận chức Phủ-Doãn Thừa-Thiên, Ông được vua Minh-Mạng chú-ý vì có nhận-định chánh-trị sắc-bén và già dặn, nên ít lâu sau được thăng làm Thị-Lang Bộ Lễ tức làm việc tại Nội-Các và kế đến lại tái nhậm chức Hiệp-Trấn Quảng-Bình lần thứ hai đến năm 1831 Ông bị thuyên-chuyển về  Quảng-Nam để dẹp cuộc khởi-loạn của dân-tộc thiểu số miền sơn cước. Cuộc chinh phạt đó, Ông gặp khó-khăn vì là quan văn, nên xem như thất bại, cho nên Ông bị giáng chức lần thứ nhứt. Rồi, Ông từ một thuộc viên của sứ bộ sang Hạ-Châu (Singapore), lại thăng lên Hàn-Lâm Kiểm-Thảo Sung Nội-Các Hành-Tẩu, đến năm 1833 được thăng Viên Ngoại-Lang Bộ Hộ, quyền ấn, Phủ Thừa-Thiên, rồi Hồng-Lô Tự-Khanh và cuối năm này, Ông được cử làm Phó Sứ sang Tàu, sau khi trở về được thăng chức Đại-Lý Tự-Khanh để coi việc Bộ Hình và được sung vào Cơ-Mật-Viện Đại-Thần. Sau đó, vì nhờ tài ngoại giao, nên Ông được khen ngợi và lãnh chức Kinh-Lược Sứ Trấn Tây (Cao-Miên), rồi trở về sung chức Bố-Chánh Tỉnh Quảng-Nam, quyền ấn Tuần-Phủ Quan-Phòng. Vào tháng 5 năm 1836 thuộc vua Minh-Mạng thứ 7, nhà vua muốn ngự du Ngũ-Hành Sơn ở Quảng-Nam, Ông dâng sớ cản ngăn đại lược như :"Nhà vua đi tuần hành, dân trong hạt chẳng vui mừng, nhưng  nay  khoảng  tháng  4, tháng  năm  mùa  hạ, mùa lúa không được tốt, lại đang lúc thời  tiết  cấy cày, trồng trọt, nếu dân lo cung đón nhà vua thì được việc này, mất việc kia.Nay xin tạm đình để dân dốc sức vào việc ruộng nương..."Lá sớ của Ông làm vua tức giận và nghi các quan ở Quảng-Nam làm việc bê-bối, nên vua cử Ông Vũ-Duy-Tân đến điều-tra hư thật. Ông này lại nịnh hót đặt điều nào : Dân chúng đang mong vua đến, các quan nhũng lạm...

 Vì thế, Ông bị nịnh thần dèm xiển, nên bị giáng chức nặng-nề, làm phận sự một người quét dọn bàn ghế tại tỉnh đường Quảng-Nam và nhà vua cũng bãi bỏ cuộc ngự du Quảng-Nam. Tuy nhiên, Ông không than van, đến khi vua hiểu được lòng của Ông, thì được bổ nhậm chức Đô-Sát Viện Ngự-Sử, Sung Cơ Mật-Viện Đại-Thần. Đến năm 1843 thuộc vua Thiệu-Trị thứ 3, có một luồng khí bạch vắt ngang trời, vua xuống chiếu cầu lời trực ngôn, Ông dâng sớ chỉ trích khéo vua và tố cáo sự thối-nát hành-chánh địa-phương, đồng thời Ông đề-nghị biện-pháp cải-thiện, Ông được vua Thiệu-Trị khen ngợi. Vua Tự-Đức lên ngôi  bổ Ông làm Thượng-Thơ Bộ-Lại, đến năm Tự-Đức thứ hai, Ông được cử làm Giảng Quan ở tòa Kinh-Diên mới thiết-lập và hai  năm sau được cử Ông làm Phó Sứ Lãnh-Tuần Phủ Gia-Định kiêm chức Lãnh Đốc các đạo Vĩnh-Long và Định-Tường, Biên Hoà, An-Giang và Hà-Tiên (Trong khi Ông Nguyễn-Tri-Phương làm Nam Kỳ  Kinh Lược  Chánh Sứ).  Trong chức vụ này, Ông  lúc  nào  cũng  nghĩ  đến ích nước lợi  dân, nên Ông lại dâng sớ điều-trần để cải-tổ, được vua chấp thuận và khen-ngợi. Năm 1853, Ông được gọi vể triều để lãnh chức Hiệp-Biện Đại-Học Sĩ Lãnh Thượng Thơ Bộ Binh. Tháng chạp năm 1856 thuộc Tự-Đức thứ 9, Ông được cử Tổng-Tài Quốc-Sử để soạn bộ Khâm-Định Việt-Sử Thông-Giám  Cương-Mục. Nước Pháp và Tây Ban Nha liên minh đánh Việt-Nam, gồm 14 chiếc thuyền chở 3000 quân dưới quyền chỉ huy của Rigault de Genouilly, ngày 24-7 năm Mậu Ngọ 1858 đến đánh Đà-Nẵng, triều đình cử Ông Nguyễn-Tri-Phương chống giữ, quân giặc thấy khó chiếm, bèn bỏ ý định đánh Huế, quay vào Gia-Định năm 1959 để đánh chiếm thành Gia-Định sau hai ngày giao tranh, chiếm được hơn 80.000 ký thuốc súng, 200 khẩu đại bác và một số tiền điếu rất lớn. Các quan bày tỏ lập-trường về việc chiến hay thủ, Ông dâng sớ bàn đại lược như sau : "Thiên hạ đất rộng, công việc rất nhiều, ở chỗ việc nhiều, cai trị chỗ đất rộng, cốt làm cho yên mà thôi. Theo sức người mà dạy, không khó nhọc mà thành công, noi phép mà cai trị, quan lại quen mà dân yên, cho nên lợi không gắp trăm thì không đổi phép, công mà không gắp mưu thì không đổi đồ dùng. Làm cái kế ngày nay cốt nhứt nuôi dân chăm cày cấy, nuôi lính đủ ăn, lưu ý như thế thì sức dân được thư thả mà quân có chỗ dạy, sức đất không bỏ phí mà lương có chỗ ra, quân giỏi, lương đủ thì như nước chảy cuồn cuộn không hết, thì  hoặc đánh  hoặc giữ, không  việc gì là không nên, đối với việc dân yên nước thịnh, may ra bổ ích đôi  chút ..." Vua Tự-Đức khen rằng : "Lời nói đều có cốt yếu, bọn tân tiến không thể ví nổi, chỉ nên thực lòng cố sức giúp trẩm, đời sau chắc có tiếng khen". Kế đến : Ngày 25-2-1861 thành đồn Kỳ-Hòa (Chí-Hòa) thất thủ em Ông Nguyễn-Tri-Phương là Nguyễn-Duy tử trận, ông Phạm-Thế-Hiển bị thương nặng mấy hôm sau thì chết, riêng Ông Nguyễn-Tri-Phương cũng bị thương phải bỏ đồn rút quân về Biên-Hòa. Ngày 12-4-1861 Page hạ thành Mỹ-Tho; ngày 9-9-1861 Đề Đốc Bonard thay Charner chiếm thành Biên-Hòa và ngày 28-3-1862 Bonard chiếm thành Vĩnh-Long. Trước tình thế nguy-ngập, vua Tự-Đức cử Ông và Ông Lâm-Duy-Hiệp vào Nam-Kỳ để thương-thuyết hầu tìm cách cứu vãn tình thế, cuộc thương-thuyết diễn ra tại Sài-Gòn, có Đô-Đốc Bonard đại-diện quân Pháp và tướng Palanca đại-diện Tây-Ban-Nha (Y Pha Nho) . Kết-quả, bắt buộc phải ký hòa-ước vào ngày 5-6 dl năm 1862 nhằm ngày 9 tháng 5 âl năm Nhâm-Tuất, quân giặc ở thế thượng phong, gồm 12 khoản, trong đó những khoản làm cho dân-tộc chúng ta khổ tâm như :

Khoản 3 : Nhường cho Pháp các tỉnh : Biên-Hòa, Định-Tường, Gia-Định và đảo Côn-Nôn. Người Pháp được đi lại trên sông ngòi Nam-Kỳ.

 Khoản 5 : Người Pháp và người Tây-Ban-Nha được buôn bán  ở  Đà-Nẵng, Đà-Lạt  và  Quảng-Yên.

Khoản 8 : Nước Đại-Nam tứcViệt-Nam phải trả 4 triệu đồng chiến phí trong hạn 10 năm... 

                    Hòa-ước Nhâm-Tuất ký xong, vua Tự-Đức và các triều không hài lòng và chủ trương : "Việc nhường đất, bồi tiền như thế không hợp lý, nhưng các điều ước mới định mà cãi nghị ngay thì họ sẽ không đồng ý". Ngoài ra, vua Tự Đức không bắt tội Ông Phan Thanh Giản mà còn cử Ông làm Tổng-Đốc Vĩnh-Long để từ từ thương chước để chuộc lại lổi lầm trước kia. Tháng 11-1862 Ông Phan-Thanh-Giản yêu cầu Pháp trả lại Vĩnh-Long, nhưng Pháp cho hay, chỉ trả lại khi nào Ông Quản-Cơ Trương-Định thôi đánh Pháp. (Bởi vì, khoảng thời gian trước và sau khi ký hòa-ước Nhâm-Tuất cho đến mất trọn 6 tỉnh thuộc Nam Kỳ, các sĩ phu và dân chúng thuộc 6 tỉnh (Nam Kỳ) rất uất hận nổi lên chống cự giặc ngoại xâm, dầu biết võ khí thô sơ nhưng với lòng yêu nước nồng nàn cao độ họ đã làm cho quân Pháp điên đảo, trong số những người cầm đầu lúc bấy giờ có các Ông : Trương-Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn-Hữu-Huân (Thủ-Khoa-Huân), Võ-Duy-Dương tức Thiên-Hộ-Dương, Đức Cố Quản Trần-Văn-Thành .v.v.).  Sau đó, đề cử sứ bộ sang Pháp và Tây Ban Nha (Y Pha Nho)  để xin chuộc lại gồm có : Chánh sứ toàn quyền Ông Phan-Thanh-Giản, Phó sứ là hai Ông Phạm- Phú-Thứ và Ngụy-Khắc-Đản, còn Ông Trương-Vĩnh-Ký làm thông ngôn. Để  người  Pháp  giúp  phương  tiện cho sứ  bộ, triều  đình  Huế lấy cớ là  để đáp lễ Pháp Hoàng đã phái người đến chúc mừng vua Tự-Đức nhân dịp ký hòa-ước 1862. Người Pháp bằng lòng cho mượn tàu Européen và cử Aubaret, Rieunier đi theo hướng dẫn, nhưng phía Việt-Nam phải trả mọi phí tổn. Sau 2 tháng 7 ngày trên tàu,  phái đoàn mới đến nước Pháp, được đón rước rất trọng thể và mãi đến ngày 7-11-1863 được vào bệ kiến vua Napoléon Đệ Tam tại điện Tuileries theo nghi lễ ngoại giao thật long trọng. Ít hôm sau, bộ ngoại giao Pháp mời sứ bộ tới và hứa sẽ nghiên-cứu rồi sửa đổi lại hòa-ước 1862 và sẽ ký một hòa-ước mới. Ông Phan-Thanh-Giản tuyên-bố đại lược rằng : "Sứ bộ Việt-Nam xin chuộc 3 tỉnh Miền Đông và Việt-Nam sẽ trả mỗi năm 2 hay 3 triệu hoặc 40 triệu một lần. Người Pháp có quyền cư trú tại 3 hải cảng để tự do buôn bán, đồng thời Việt-Nam nhượng cho Pháp hải cảng Sài-Gòn" Chánh Phủ Pháp chấp-thuận soạn thảo hòa-ước mới để thay thế hòa-ước 1862 trước kia, đồng thời trao cho sứ bộ Việt-Nam trước khi lên đường sang Tây-Ban-Nha. Bởi vì, nước Pháp lúc đó đã thâm lủng 972 triệu  quan Pháp, nên vua Napoléon lẫn Tổng-Trưởng Tài-Chánh đều chủ trương trao lại đất choViệt-Nam để  lấy tiền. Do vậy, sứ bộ do Ông Phan-Thanh-Giản thành-công, còn được đưa đi xem các nơi tại Pháp và Tây-Ban-Nha (Y Pha Nho) rất văn-minh của xứ người.Ngày 24-3-1864, sứ bộ về đến Sài-Gòn. Vua Tự-Đức và triều thần đều vui mừng. Vua Tự-Đức bèn phong Ông làm Thượng Thơ Bộ Lại như cũ. Nhưng thực tế, triều đình Huế đã mừng hụt, vì phe thực-dân đã vận-động để chống lại việc cho chuộc đất, đứng đầu là các nhân vật thuộc bộ hải-quân và thuộc địa như : Chasseloup Laubat, Bonard, De La Grandière ...vì thế vua Napoléon đổi ý không cho chuộc lại đất. Tháng 2-1865, Aubaret tới Huế cho hay không có hòa-ước mới và yêu cầu vua Tự-Đức cho trả tiền chiến phí, đồng thời  phải cấm nghĩa-sĩ chống Pháp. Như thế, việc chuộc đất hoàn-toàn thất bại vì kẻ mạnh trở mặt, muốn thế nào cũng được, làm cho Ông Phan-Thanh-Giản lại bị vua Tự-Đức tức giận cách lưu. Đây là lần Ông bị giáng chức thứ sáu, tội nghiệp cho Ông lúc này đã 70 tuổi. Sau đó, dã tâm của giặc Pháp càng ngày càng rõ rệt là muốn nuốt trọn Nam Kỳ lúc bấy giờ có 6 Tỉnh, các lực-lượng nghĩa-sĩ chống giặc ngoại-xâm nổi lên đánh phá khắp nơi. Trước tình thế đó, Vua Tự-Đức lại cử Ông Phan-Thanh-Giản vào Nam, vì nghĩ rằng người Pháp đã biết Ông, với chức Hiệp Biện Đại Học Sĩ Bộ Hộ, Thượng Thơ Sung Kinh Lược Sứ thuộc 3 Tỉnh An-Giang, Vĩnh-Long và Hà-Tiên. Ông xin từ chức vì cớ tuổi già, nhưng không được vua chấp  thuận và trước khi  đi  Ông có tâu rằng : "Chánh sách của Ông là luôn luôn tuân đúng theo hòa-ước". Vua Tự - Đức cũng  ngỏ ý : "Muốn hoà-bình cho dân-tộc được yên ổn, nhưng không nên vì lẽ ấy mà khuất-phục tình hình một cách thụ động". Về phía thực-dân Pháp, De La Grandière (De Lagrandière?) đã thảo kế-hoạch đánh chiếm luôn ba tỉnh Miền Tây (Nam Kỳ). Ngày 15-6-1867, De Lagrandière rời Sài-Gòn xuống Vĩnh-Long với 17 chiến hạm và hắn nhờ Cố Dương đưa thơ mời Ông Phan-Thanh-Giản xuống soái hạm để cho biết lý-do động binh của hắn. Ông và Án Sát Võ-Doãn-Thanh cố-gắng thương-thuyết, nhưng bọn thực-dân đã quyết-tâm cướp nước, thì làm sao còn thương thảo được, hai Ông hoản binh, hứa sẽ nộp thành với điều-kiện yêu cầu đừng sách nhiễu dân và tiền với lúa trong kho vẫn phải để Việt-Nam nắm giữ. De La Grandière ưng thuận, nhưng khi hai Ông trở về thành vào ngày 20-6-1867, thì thành Vĩnh-Long đã bị quân Pháp chiếm. Sau đó, đến thành An-Giang mất ngày 22-6-1867 và thành Hà-Tiên cũng bị quân Pháp chiếm luôn vào ngày 24-6-1867 (Theo sách Việt-Nam Sử Lược của Ông Trần-Trọng-Kim viết : "Ông Phan-Thanh-Giản bảo các quan đành chịu nộp thành cho khỏi sự tai hại" nhưng không thấy dẫn chứng dựa theo tài-liệu nào? Chỉ thấy trong quyển La Geste Française en Indochine của Cura Taboulet tập 2, trang 518-519, đã dịch ra và in trong quyển quân-sự tập  3  của  BTM do  Ông Pham-Văn-Sơn  biên soạn  viết : Ông Phan-Thanh-Giản viết thơ buộc Tổng  Đốc An-Giang  và Hà-Tiên hạ vũ khi đầu hàng. "Nếu cần xin xem quyển Nguyễn-Đình-Chiểu về tác-giả và tác-phẩm trang 672" ).

Sau đó, Ông Phan-Thanh-Giản lấy tiền lúa nộp một phần cho Pháp để thanh-toán tiền bồi thường năm đó, rồi Ông ra sống tại một ngôi nhà tranh ở ngoài thành Vĩnh-Long. Chính tại nơi đây, Ông quyết-định chấm dứt cuộc đời của Ông. Có lẽ đó là lối thoát duy nhứt của Ông sau khi Ông đơn phương nộp thành trì cho Pháp mà không có sự ưng-thuận của triều đình, nhứt là trước đó vua Tự-Đức đã đặt hy-vọng bảo-vệ thành trì vào tay Ông. Ông đã hiểu mình phải làm gì, bởi vì thân làm tướng giữ thành mà để mất thành là một trọng tội, cho nên Ông tự xử lấy mình. Ông xếp tất cả áo mão và các tờ sắc-phong kèm theo tờ sớ chịu tội với triều đình rồi Ông bắt đầu tuyệt thực. 


Sự tuyệt thực của Ông có ý-nghĩa là một biện pháp "ung dung tựu nghĩa" tức là bình-tỉnh đón nhận cái chết để đạt được nghĩa lớn tức là đền nợ nước. Các con cháu quì lạy khóc lóc nhưng Ông đã quyết không ai ngăn cản được. Ông vẫn bình tỉnh và sáng suốt khuyên con cái lo học-hành, không được làm việc cho Pháp, đồng thời  bảo con cháu lo tang ma thật giản dị và Ông tự tay viết di bút để đề mộ bia cho Ông gồm 24 chữ Hán, viết thành 3 hàng được phiên âm như sau : 


"Minh tinh thỉnh tỉnh nhược vô ứng thư,

Đại-Nam hải nhai lão thư sinh tính Phan chi cửu. Diệc dĩ thử chí mộ". 

 

nghĩa là : Xin bỏ tấm triệu, còn nếu không chịu bỏ thì chỉ nên viết : "Linh cữu của người học trò già họ Phan ở bãi biển nước Đại-Nam" mộ chí cũng đề như thế.  Đồng thời Ông làm thơ tuyệt mạng :  Thời trời, lợi đất, lại người hòa, Há dễ ngồi coi phải nói ra. Làm trả ơn vua, đền nợ nước, Đành cam gánh nặng ruổi đường xa. Lên gềnh xuống thác thương con trẻ, Vượt biển trèo non cam phận già. Cũng tưởng một lời an bốn cõi, Nào hay ba tỉnh lại chầu ba!  Và Ông tuyệt thực suốt 17 ngày mà không chết để chờ quyết định của vua Tự-Đức. Sau cùng, vào lúc nửa đêm mùng 4 rạng mùng 5 tháng 7 năm Đinh Mão 1867, Ông hướng về phương Bắc nơi có vua Tự-Đức để lạy 5 lạy và trước sự chứng kiến đau lòng của các con cháu, rồi Ông uống á-phiện với dấm thanh để  tự vận. Lúc đó có nhiều người quan Pháp kính nể việc làm của Ông, bác sĩ hải-quân  Pháp là Le Coniat đã tận  lực  cứu  chửa, nhưng  không  cứu Ông được, nên phải trút hơi thở cuối cùng thượng thọ 71 tuổi và được các quan lớn nhỏ ở lục tỉnh cùng thân nhân bằng cố hữu về đông đủ để chịu tang và các con cháu đưa về an táng tại làng Bảo-Thạnh, quận Ba-Tri (Bến-Tre) đúng như ý muốn của Ông. Khi hay tin Ông chết, các quan Việt-Nam và Pháp tới phúng điếu đều ngậm ngùi thương tiếc một công thần với 41 năm công cán suốt 3 triều đại là: 1.-Vua Minh - Mạng (1820-1840) tức con thứ ba của vua Gia-Long là Thánh-Tổ Nguyễn-Phúc-Đảm, thọ 50 tuổi, trị vì 20 năm và có 170 người con. 2.-Vua Thiệu-Trị (1841-1847) tức Hoàng-TháiTử của vua Minh-Mạng là Hiến-Tổ Nguyễn-Miên-Tông, thọ 37 tuổi và trị vì 6 năm. 3.- Vua Tự-Đức (1847-1883) tức con thứ  hai củaVua Thiệu-Trị với Bà Thái-Hậu Từ-Dũ, quê ở Gia-Định (Nam Kỳ) là Hoàng-Thái Tử Dực-Tông Nguyễn-Hồng-Nhậm, thọ 55 tuổi và trị vì 36 năm.

Lúc làm Kinh-Lược trấn nhậm tỉnh Vĩnh-Long Ông có lập miếu thờ Đức Khổng Tử do Ông Nguyễn-Thông trông nom, khởi công năm Giáp Tý 1864 đến cuối năm 1866 hoàn-thành, đồng thời cất tòaVăn-Xương-Các chung trong đất Văn -Thánh tại làng Long-Hồ để khi rảnh rổi việc quan, Ông cùng các bạn văn nho họp luận bàn thi phú. Tòa Văn Xương-Các đến nay vẫn còn uy-nghiêm dưới nhiều cây cổ thụ trồng từ xa xưa, cách chợ Vĩnh-Long   khoảng 3 cây số. Bên trong có thờ chân dung Ông và bài-vị Ông Võ Trường Toản. Riêng tại Miểu Quốc-Công nằm trong thị xã Vĩnh-Long cũng có thờ Ông, hai nơi này lúc nào khói hương cũng nghi ngút. Ngoài ra, năm 1966, chánh-quyền Tỉnh và thân hào nhân sĩ trước kia, cũng dựng tượng đồng bán thân Ông đặt tại công viên tại chợ Vĩnh-Long. Bởi vì, Ông là vị quan thanh-liêm, cương trực, hết lòng phục mệnh các vì vua và lo cho đất nước, dân tộc, lúc bấy giờ, cho nên Ông bị hành-động gian-xảo của giặc Pháp ở thế thượng phong về quân-sự cùng văn-minh tân kỳ của giặc Pháp (bởi vì, Ông đã thấy tận mắt khi cầm đầu sứ bộ sang Pháp), lúc nào cũng muốn cưỡng chiếm 6 tỉnh Nam-Kỳ cho bằng được. Dù ai, ngoài Ông ra cũng không tránh khỏi kết-quả thiệt-thòi của giặc Pháp đưa đến. Vì thế, Ông đành thất thủ thành và đưa đến cái chết can-đảm. Trong khi đó, có tin từ triều đình Huế gởi vào : Bãi chức hàm của Ông, đục tên trên bia tiến-sĩ ngoài Huế để làm gương, cuối cùng đến năm 1885 vua Đồng-Khánh mới phục hồi chức hàm và đến năm 1924 vua Khải-Định mới phong thần cho Ông. Hơn nữa, sau khi Ông  chết, hai con  của Ông  là: Phan-Tôn và Phan-Liêm đã nghe lời  Ông  căn dặn  trước khi  chết là : "không ra làm quan với Pháp" mà còn đứng lên chống Pháp. Vì vậy, khi Ông qua đời không những thân bằng quyến thuộc, các quan lớn nhỏ Việt-Pháp cùng đồng bào miền lục tỉnh đến nơi tiễn đưa Ông rất long-trọng và luyến tiếc một nhân tài không thể cưỡng lại tình thế lúc bấy giờ. Riêng Ông Nguyễn-Đình-Chiểu làm bài thơ điếu Ông, bằng chữ Nôm như sau :  Non nước tan tành hệ bởi đâu? Dàu dàu mây bạc (trắng) cõi Ngao châu, Ba triều công cán vài hàng sớ, Sáu tỉnh cang (cương) thường một gánh thâu, Ải (Trạm) Bắc ngày trông (chiều) tin nhạn (điệp) vắng, Thành Nam đêm quạnh tiếng quyên sầu, Minh tinh (sinh) chín chữ (*) lòng son tạc, Trời đất từ đây mặc gió thu.  (*) Ông Phan-Thanh-Giản viết di bút để lại cho các con cháu có 11 chữ là : Đại Nam hải nhai lão thư sinh tánh Phan chi cửu có nghĩa là "Linh cữu của người học trò già họ Phan ở bãi biển nước Đại-Nam". Như vậy, chữ "cữu" là cuối chữ của câu 11 chữ do Ông Phan-Thanh-Giản viết rớt đúng chữ "linh" thì rất đúng quy tắc.  Bởi vì, theo quy-tắc thời xưa, khi viết minh  tinh (tấm triệu) hay mộ bia bắt buộc phải chú ý đến 4 chữ : Quỷ, Khốc, Linh, Thính và phải tôn trọng quy tắc: "Nam Linh, Nữ Tính, bất dụng Quỷ Khốc nhị tự". Nhưng tại sao Ông Nguyễn-Đình-Chiểu là đồ nho lại viết 9 chữ và cắt bỏ hai chữ Đại-Nam  có ý nghĩa gì ? Theo thiển  nghĩ   lúc bấy  giờ ở Nam Kỳ lục tỉnh đã bị giặc Pháp chiếm, thì không  thể dùng chữ Đại-Nam mà phải cắt bỏ để trách khéo Ông Phan-Thanh-Giản? và có ý để Ông Phan-Thanh-Giản thành Quỷ sau khi chết, bởi để mất Nam Kỳ.  Hơn nữa, câu thơ chót Ông Nguyễn-Đình-Chiểu kết bằng chữ gió thu (tức gió mùa Thu, theo ngũ-hành thuộc Kim, theo phương hướng thuộc hướng Tây) ý nói lục tỉnh Nam Kỳ giờ đây do giặc Pháp cai trị là để gói trọn sự thống hận đổ trút hết tội tình lên Ông Phan-Thanh-Giản, giống như hành động vua Tự-Đức vậy.   

Xin xem bảng kê dưới đây sẽ thấy rõ hơn :  

 

Qủy

Khốc

Linh

Thính

Qủy

Khốc

Linh

Thính

Qủy

Khốc

Linh

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

Đại

Nam

hải

nhai

lão

thơ

sanh

tánh

Phan

chi

cửu

 

 

1

2

3

4

5

6

7

8

9

 

 

Qủy

Khốc

Linh

Thính

Qủy

Khốc

Linh

Thính

Qủy

 

Ngoài ra, Ông Nguyễn-Đình-Chiểu không dừng ở đây, lại làm thêm bài thơ điếu Ông Phan-Thanh-Giản bằng chữ Hán, không kém sự phiền giận của Ông. Xin trích dẫn như sau : 

"Bỉnh tiết tằng lao sinh Phú Bật,

                    Tận trung hà hận tử Trương Tuần, 

Hữu thiên lục tỉnh tồn vong sự, 

Nam đắc thung dung tựu nghĩa thần..." 

 Với 4 câu thơ trên Ông Nguyễn-Đình-Chiểu, mượn Ông Phú-Bật ở đời nhà Tống được vua cử đi sứ để thuyết phục được giặc Khiết-Đan và lấy lại được đất cho nhà Tống, còn Ông Phan-Thanh-Giản cũng được cử đi sứ, nhưng không thành công. Riêng Ông Trương-Tuần ở đời nhà Đường giữ thành Tuy Dương, chống giặc An-Lộc-Sơn, đã chiến đấu đến cuối cùng, thành mất Ông Trương Tuần chết theo thành, còn Ông Phan-Thanh-Giản không theo gương người xưa, chết tức khắc theo thành?. Vì thế, việc còn mất lục tỉnh, còn có trời. Nhưng, Ông Phan-Thanh-Giản muốn ung dung làm thần (tựu nghĩa thần) thì thật khó lắm thay! Quả thật, Ông Nguyễn-Đình-Chiểu, là con người  vì yêu  nước  nồng-nàn, cho  nên  việc mất  lục tỉnh Nam-Kỳ làm Ông tức giận tột cùng. Vì thế khi Ông Phan-Thanh-Giản chết, Ông làm hai bài điếu để hờn giận, căm thù thật đáng sợ hơn là thương tiếc Ông Phan-Thanh-Giản lâm vào tình trạng tiến thối lưỡng nan lúc bấy giờ. 

Qua những trích dẫn vừa qua, chúng ta thấy được Ông Phan Thanh Giàn đáng được tôn kính Vinh Danh, bởi vì Ông là Nhân Tài Đạo Đức, Cương trực, Thanh Liêm,  Trung Quân Ái Quốc và Thương Dân suốt đời,  giống như các bậc danh nhân ngày xưa, đáng cho thế hệ chúng ta và kế tiếp sau này tôn vinh và ngưỡng mộ mãi mãi.   Để biểu lộ tôn kính đối với các bậc tiền nhân bằng hành động, không gì bằng mỗi khi có dịp chúng ta qua Tiền Giang hay Hậu Giang thuộc miền Nam Việt Nam, xin nhín chút thời giờ quý báu đến Bến Tre để thăm các lăng mộ của các Ông : Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản, Võ Trường Toản... Nếu du khách muốn đi thăm viếng mộ Ông Nguyễn-Đình-Chiểu ở ấp Vĩnh-Đức-Trung, làng An Đức, quận Ba-Tri, Tỉnh Bến Tre (Kiến - Hòa  trước  kia), trước hết phải đến Mỹ-Tho thuộc Tỉnh Tiền-Giang (Định-Tường trước kia) tìm bến bắc Rạch Miểu, để qua con sông Tiền Giang, kế đến lấy xe đò đi về Thị Xả Bến-Tre khoảng 12 cây số, rồi đi tiếp về chợ quận Ba-Tri khoảng 35 cây số, thì thấy lăng mộ Ông Nguyễn-Đình-Chiểu.  

Muốn đi thăm lăng mộ quý Ông :  Võ Trường Toản,

Phan Thanh Giản phải đi như thế nào ?


Muốn đi thăm lăng mộ Ông Võ-Trường-Toản, khi đến chợ quận Ba Tri, sẽ thấy có ngã ba, phải quẹo trái (nhớ đừng quẹo mặt sẽ đi trở lại ngôi mộ Ông Nguyễn-Đình-Chiểu đã thăm) và đi hướng Phú Lễ trên 15 cây số, để đến ấp 4, xã Bảo Thạnh, Quận Ba Tri (Bến Tre) sẽ thấy lăng mộ Ông Võ-Trường-Toản khang trang như sau :  Rồi chúng ta đi tiếp khoảng 300 thước thì thấy  ngôi mộ Ông Phan Thanh Giản, do anh Phan Thanh Nhàn là người cháu sáu đời của Ông săn sóc dưới đây: Mới đây, vừa nhận được tin mừng, chánh quyền Việt Nam đã khôi phục danh dự Cụ Phan Thanh Giản, xin trích dẫn các trang nhà Bến Tre và Báo Tuổi Trẻ đăng như sau:

http://www.bentre.gov.vn/index2.php?option=com_content&task=view&id=2992&pop=1&page=0&Itemid=45  - 

Cụ Phan Thanh Giản Được Lịch Sử Tôn Vinh

Nguời viết : Thu Thủy (Bảo tàng Bến Tre)    28/02/2008

Phan Thanh Giản sinh năm 1796 mất năm 1867, quê quán tại xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri. Ông là một danh nhân của dất Bến Tre. Cuộc đời ông là những ngày tháng trắc trở, gian truân từ lúc sinh ra cho đến cuối đời. Ông là vị tiến sĩ  đầu tiên của đất Nam kỳ, thi đỗ vào năm 1826, rồi làm quan dưới 3 triều nhà Nguyễn: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Ông là một người tài giỏi, một nhà văn, nhà thơ, và là một vị quan thanh liêm, ngay thẳng nên con đường hoạn lộ của ông cũng lắm nỗi thăng trầm.

Bi kịch cuối đời của ông gắn liền với giai đoạn các tỉnh Nam kỳ bị thực dân Pháp xâm chiếm, mà đỉnh điểm là sự kiện ba tỉnh miền Tây Nam kỳ gồm An Giang, Hà Tiên và Vĩnh Long lọt vào tay quân xâm lược Pháp lúc Ông đang được giao trọng trách Kinh lược sứ trấn giữ các tỉnh này.

 Thành mất, Ông đã chọn cho mình cái chết như một vị tướng trung liệt, thành mất thì mất theo thành.

 http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=252617&ChannelID=10 

Thứ hai 14-04-2008, 07:44 (GMT+7)

Cụ Phan Thanh Giản Xứng Đáng  Được Tôn Vinh 


TT (BẾN TRE) - Cục trưởng Cục Di Sản Văn Hóa Đặng Văn Bài vừa có công văn gửi UBND tỉnh Bến Tre, cho biết Cục Di Sản Văn Hóa đã làm việc với Viện Sử học và cơ quan này có công văn nêu rõ các nhà Sử học đánh giá cao về công lao của Cụ Phan Thanh Giản trên nhiều lĩnh vực  chính trị, ngoại giao, văn hóa.

Cụ Phan Thanh Giản là người giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình nhà Nguyễn, nổi tiếng thanh liêm, đạo đức, có nhiều đóng góp lớn đối với lịch sử dân tộc trên các lĩnh vực văn học, sử học... Viện Sử học kết luận : "Với nhận thức mới trên quan điểm lịch sử cụ thể, nhân vật Phan Thanh Giản xứng đáng dược  tôn vinh bằng nhiều hình thức khác nhau".

Cục Di Sản Văn Hóa đề nghị UBND tỉnh Bến Tre giao các cơ quan chức năng kiểm kê các di tích liên quan dến Cụ Phan Thanh Giản, trên cơ sở đó  lập kế  hoạch tu bổ, tôn tạo, phát huy giá trị di tích. Tại kỳ họp lần thứ  13 HĐND tỉnh Bến Tre khóa VII (ngày 10 và 11-4-2008) đã  thông qua việc đổi tên Trường THPT Ba Tri thành Trường THPT Phan Thanh Giản từ năm học 2008-2009.  Sắp tới tỉnh sẽ dựng lại tượng Cụ Phan Thanh Giản.  


5/ Đá hoa cương
Võ Kỳ Điền

Võ Kỳ Điền là cựu sinh viên Đại học Sư phạm Sàigòn (khóa 1961-1964). Ông bắt đầu viết từ năm 1980, từng cộng tác với nhiều tập san và nhật báo.
Tác phẩm đã xuất bản: Kẻ đưa đường (1986), Pulau Bidong Miền đất lạ (1992).


Cứ mỗi lần tiếng chuông reo vang báo hiệu giờ học bắt đầu, giáo sư lục tục kéo nhau xuống lớp thì tôi đều bước ngang qua cái bảng phân phối giờ dạy thật to gắn trên tường của phòng hội, liếc qua coi buổi sáng nay phụ trách lớp mấy. Nếu không vậy thì thế nào tôi cũng đi lộn vào lớp của giáo sư khác. Cái tật xấu hay nhớ trước quên sau đó, thường bị học trò cười hoài. Nhiều khi lớp của người ta đã ổn định, thầy đang điểm danh, tôi từ từ đi vô như là lớp của mình, quên mất là còn có anh bạn giáo sư đang ngồi lù lù ở trên bàn viết. Những lúc đó, đám học trò có dịp làm ồn: 
-Lộn tiệm rồi, thầy ơi ! 
Cứ năm ba tuần là tôi đi lộn lớp một lần. Một phần vì tánh đãng trí hay quên, một phần vì cái trường Hoàng Diệu nầy quá lớn. Trường có trên năm chục lớp với gần một trăm giáo sư. Hành lang cái nào cái nấy dài hun hút. Phòng học, cửa cái, cửa sổ, sơn cùng màu, bàn ghế sắp xếp giống hịch nhau. Không lộn sao được! Có lần thằng Sơn, trưởng lớp Đệ Nhị A7 nhắc khéo: 
-Lớp của tụi em có anh Quì ngồi ở đầu bàn. Hễ thấy cái lưng của ảnh, thầy đi vô là trúng phóc. 

Thằng Sơn thiệt là xéo xắc. Quì thì làm sao tôi quên được. Ở đầu bàn, nghe Sơn nói, Quì cười gượng gạo. Tôi chợt hiểu ra cái ý xỏ xiên. Ở lớp nầy, Quì nổi tiếng nhiều mặt nhưng cái vụ mập mạp thì nó đoạt giải nhứt. Nó mới có mười bảy tuổi mà sao lớn con quá! Cái lưng dài sọc, cái vai to sầm, còn cái bụng chang bang như đàn bà có thai ba bốn tháng. Nếu đem cân kí lô thì tôi thua nó rõ ràng. Lúc đó tôi mới ra trường, ốm nhách, nhỏ xíu, đen thui. Tụi học trò ở tỉnh nầy, đứa nào đứa nấy tuổi còn nhỏ mà thân thể bự con, dềnh dàng. Có anh bạn bàn rằng vì chiến tranh loạn lạc, ở thôn quê khai sanh bị thất lạc, phải làm lại, người ta sửa tuổi cho nhỏ hơn để tiện việc học hành, quân dịch. Câu nói đó chắc đúng ở trường hợp thằng Quì. So với vóc dáng to lớn đó, tôi không tin nó mười bảy tuổi. 
Có lần ngồi coi văn nghệ học sinh trình diễn, Quì đang hát trên bục cao, tôi quay qua ông hiệu trưởng nói nhỏ: 
-Thằng Quì nó mới mười bảy tuổi mà sao bự quá! 
-Anh nhắm coi nó cỡ bao nhiêu? 
-Ít ra cũng hai chục! 
Rồi tôi tiếp: 
-Thằng Quì nó học hát hồi nào mà hay như ca sĩ chuyên nghiệp. Nó mà về Sài gòn thì thế nào cũng nổi tiếng như Anh Ngọc, Nhật Trường... 
-Thì cũng nhờ hát hay nên trường mình mới nhận vô. Chớ nó thì học dở lắm. 

Rồi ông cho tôi biết, năm trước Quì được nhận vào trường công không phải nhờ thi đậu, cũng không phải do học giỏi mà nhờ cái giọng ca đặc biệt. Nó học trường Trần Văn, một trường tư trong tỉnh. Nghe đâu nhà ở Cái Tắc, Chương Thiện gì đó. Nghèo lắm phải lên Sóc Trăng ăn đậu ở nhờ nhà một người quen để học. Năm ngoái các trường trong tỉnh có tổ chức một đại hội thi đua văn nghệ, Quì với giọng ca ấm áp, truyền cảm, ngọt ngào, đã chinh phục tất cả quan khách, thầy cô giáo, khiến cho mọi người có mặt hôm đó ngẩn ngơ. Tiếng vỗ tay không dứt. Nó đoạt giải dễ dàng. Trường Hoàng Diệu là trường công lớn nhứt tỉnh, không lẽ chịu thua trường tư. Anh em giáo sư bàn bạc với nhau vì nhu cầu sinh hoạt văn nghệ của trường, cần có một vài học sinh hát hay để làm nồng cốt cho các buổi trình diễn, nên cuối cùng Hội Đồng Giáo sư quyết định thâu nhận đặc biệt Quì vào trường. Thế là nó được học trường công nhờ cái tài năng thiên phú đó. 

Riêng tôi, tôi biết Quì hơi trễ. Vài tuần sau khi tôi dạy lớp nó, tôi lật sổ điểm danh, cầm viết dò tên học trò từ trên xuống dưới. Đến tên Quì tôi thấy là lạ, bèn kêu lên để hỏi bài. Tôi nhìn xuống dưới các dãy bàn để coi đứa nào. Quí đứng lên phục phịch, để tập và sách giáo khoa lên bàn rồi khoanh tay chờ hỏi, dáng lo lắng. Tôi cười nhìn nó: 
-Đứng vậy được rồi, đừng có khoanh tay. Lên trả bài, chớ bộ đi hầu quan lớn sao! 
Tập vở nó sạch sẽ, chữ viết đẹp, nét đều đặn ngay thẳng. Tôi lật tìm bài đang kiểm soát trong sách giáo khoa. Khi lật trang đầu, tôi đọc thấy hai câu thơ viết nắn nót ở phía dưới cái tên Trần Văn Quì; 
          Nếu làm hoa làm hoa hướng dương 
          Nếu làm đá làm đá hoa cương 
Hai câu ý rất lạ, làm tôi ngạc nhiên. Tôi nghĩ thoáng trong đầu. Nó tên Quì mà dùng hai câu nầy để tỏ bày chí hướng cao xa thì khéo quá _ hoa quì một dạ hướng dương. Nhưng trình độ một học sinh đệ tam thì làm sao viết hay được như vậy. Tôi nhìn kỹ lại khuôn mặt Quì cho rõ hơn. Mặt nó hơi thô vì bề ngang to hơn bề dọc, thành ra cái trán, cái mũi, cái càm ngắn ngủn. Hai gò má bầu bĩnh, đầy thịt, khiến khi cười cặp mắt híp lại. Bình thường cặp mắt nhỏ dài, ánh mắt lanh. Tóc mọc lấn hai bên thái dương nên cái trán hẹp lép. Nó chỉ được có cái miệng đẹp. Đôi môi mỏng, đều đặn hồng hồng, hàm răng trắng bóng đều đặn. Nhìn chung con người nó thô, vóc dáng cục mịch, không phải là tướng học trò. Tôi đoán rằng hai câu thơ trên không phải do nó nghĩ ra. Tuy thắc mắc nhưng tôi không tiện hỏi, trong bụng nghĩ rằng nó tình cờ đọc được ở đâu đó rồi chép lại.

Từ đó, tôi càng chú ý tới nó hơn. Quì rất ngoan ngoản, lễ phép, dễ thương, nói năng nhỏ nhẹ, tuy có điều học quá dở. Làm sao tôi quên được một buổi học về ca dao, tôi biểu nó đọc bài Trấn Thủ Lưu Đồn: 
Ba năm trấn thủ lưu đồn 
Ngày thì canh điếm, tối dồn việc quan. 
-Em giải nghiã câu nầy ra văn xuôi cho tôi nghe! 
Tôi thấy nó suy nghĩ hồi lâu, rồi mặt đỏ rần, miệng ấp úng: 
-Dạ thưa thầy, khó nói quá! 
Tôi ngạc nhiên: 
-Em hiểu sao cứ nói vậy. Có trật tôi sửa cho. 
Nó ngần ngừ lựa lời: 
-Dạ, hai câu nầy theo em hiểu, thì ban ngày mấy người lính phải canh gác, coi chừng mấy cô gái làm cái nghề... bậy bạ, ban đêm thì tụ tập lại để làm quan! chắc họ hát bội cho vui !.
Tụi bạn nó ngồi ở dưới, ban đầu chưa hiểu tại sao nó lại giải nghiã như vậy, cả lớp lặng im. Bỗng có tiếng cười của một đứa, rồi hai đứa, rồi cả lớp xúm nhau cười rần rần. Đứa nầy lấy cùi chỏ thúc đứa kia, đứa kia lại ghé miệng vào tai giải nghiã cho đứa nọ hiểu. Tôi ngồi ở trên, rán nín cười mà không kìm lại được, đành làm bộ đứng dậy, quay mặt vào bảng đen, cười đến chảy nước mắt. Tội nghiệp, thằng Quì đứng đó, mặt bơ bơ. Nó không hiểu tại sao cả lớp lại cười lăn nghiêng lăn ngửa. Nó đưa mắt nhìn tôi dò hỏi. 
Tôi từ từ giải nghiã cho nó: 
-Em hiểu như vậy là sai rồi ! Chữ "điếm" trong bài nầy là cái trạm canh, bây giờ người ta gọi là cái đồn hay cái bót gác, chớ không phải là mấy cái cô gì... bậy bạ đó đâu! Còn "dồn việc quan" là người lính thú phải gánh vác tất cả các việc vất vả trong doanh trại, cũng như bị các quan trên sai khiến làm việc cực nhọc, không được nghỉ ngơi. 
Nó vừa ngồi xuống, vừa cười vừa mắc cỡ, mặt mày đỏ lơ đỏ lưởng. Đại khái sự hiểu biết của Quì rất giới hạn. Quì cũng biết mình kém cỏi nên rất chịu khó học hỏi, nhún nhường. Được một điều, các sinh hoạt xã hội, văn nghệ là nó xung phong đi đầu. Nó hoạt động hăng say không biết mệt. bảy giờ sáng, năm giờ chiều, một hai giờ khuya, chỗ nào có đám đông là có mặt Quì. Bạn bè đứa nào cũng mến nó. Mấy cô bạn gái lúc nào cũng nhắc nhở tới tên nó luôn: -Anh Quì giúp em làm cái nầy_ Anh Quì giúp em làm cái kia. _Anh Quì hát cho em nghe cái bài gì hôm trước anh hát ở trong lớp đó ! 
Hình như chưa bao giờ Quì từ chối giúp ai điều gì. Nhiều khi nghĩ tới Quì, tôi ước ao phải chi nó học hành được khá thêm một chút thì hoàn hảo. Tôi có nói ý nghĩ nầy với ông Hiệu Trưởng. Ông ta cũng đồng ý với tôi. Anh Hiếu già, giáo sư Lý Hoá cũng góp ý: 
-Chắc tại nó nghèo quá nên học không vô. Hay là mình xuất quỹ nhà trường để giúp thêm chút ít cho nó đủ tiền ăn học. Tiền bạc có thoải mái thì trí óc mới sáng suốt được. Thằng Quì cũng dễ thương, biết chịu khó... 
Ông Hiệu Trưởng cũng đồng một ý nhưng theo nguyên tắc, không thể lấy tiền quỹ của Hiệu Đoàn để cho riêng một học sinh được. Chúng tôi bàn bàn nhau, mỗi tháng đóng góp người một ít để giúp cho Quì một số tiền nhỏ, phụ giúp nó các khoản ăn mặc, chi tiêu. Còn nhà ở thì dễ quá. Ông Tổng Giám Thị dọn dẹp cho nó một cái phòng trống cạnh kho chứa vật liệu cũ của trường. Có điện, có nước đầy đủ. Nó vừa ở học, vừa phụ với ông gác dan, coi sóc trường sở! Anh em giáo sư cũng hết lòng hướng dẫn nó học tập. Nhiều ngày chủ nhựt có dịp đi ngang trường, tôi thường thấy xe của Hiếu già đậu trước cửa phòng nó. Hiếu già rảnh rổi, ế vợ nên chưa có con, nhà cửa khá giả, lấy việc dạy học thêm cho Quì làm niềm vui. Anh thường khoe với tôi: 
-Lúc nầy Quì học tiến bộ lắm đó. Làm bài không còn lụp chụp như trước nữa đâu. Tôi tin anh Hiếu già. Tôi tin Quì nó tiến bộ môn Lý Hoá. Nhưng môn Việt Văn của tôi thì Quì càng học càng dở, không khá được hơn chút nào! Tôi kiên nhẫn, tìm đủ mọi cách giải nghiã thật đơn giản cho Quì hiểu, nhưng rốt cuộc rồi hoài công vô ích. Chưa một bài luận nào của nó mà tôi cho trên năm điểm. Câu văn dài dòng, lê thê, không tìm thấy dấu chấm phết. Phần nhiều thì lạc đề ! Nó viết lan man trên trời dưới đất, không ăn nhập gì với đầu bài. Ý tưởng lộn xộn, lạ lùng. Xen vào đó là những danh từ rất đặc biệt, tôi ít khi nghe. Nhưng cái điều làm tôi bực mình nhứt là nó thường viết chữ " f " thay cho chữ "ph". Mỗi lần bắt gặp chữ nầy, tôi lấy viết đỏ khoanh tròn nhiều vòng, ghi lớn bên cạnh câu nhận xét "chữ quốc ngữ không bao giờ có mẫu tự nầy ". Nó nghe lời sửa chữa được vài lần nhưng sau đó thì chữ " f " ngứa mắt nầy lại thấy nhan nhản trong các bài luận. Nhiều đêm chấm xong bài của nó, tôi tức phát mệt. Tuy vậy tôi cũng rán sửa từng chữ, từng câu hy vọng một ngày đẹp trời nào đó nó sẽ khá hơn. Nhưng ngày đó còn xa vời quá. 

Cho đến một ngày gần cuối niên học, buổi trưa trời nắng gắt, tôi dạy xong ra khỏi lớp nhưng chưa về liền, đến ngồi ở băng đá, cạnh hồ nước có trồng sen thì Quì đến ngồi kế bên, tâm sự:
-Thầy ơi ! Sao nghĩ tới tương lai, em buồn quá! 
Tôi ân cần hỏi lại: 
-Em có gặp chuyện gì rắc rối không ? Có khó khăn gì cho tôi biết với ! 
Nó trả lời, giọng buồn buồn: 
-Năm nay em tới tuổi quân dịch. Chuyện thi cử thì quá khó khăn đối với em. Làm sao mà thoát được kỳ nầy. Đi lính thì phải bỏ học. Lỡ dở hết... 
Tôi an ủi nó bằng một câu thật tầm thường, không nói thì thiếu, mà nói ra thì hơi...dư: 
-Em rán hết sức từ giờ đến khi thi, thì sẽ đậu được. Không có gì khó khăn lắm đâu. Đừng nản lòng. Tôi hồi nhỏ học còn dở hơn em nhiều lắm, lần hồi rồi cũng xong! 
Khuôn mặt của Quì chiều hôm đó, ảm đạm quá. Tôi thương nó mà đành bất lực. Quì ngồi hồi lâu, khe khẻ nói: 
-Chẳng thà em vô bưng, còn hơn đi lính quốc gia đánh mướn cho Mỹ ! 
Nghe xong tôi muốn á khẩu, lỗ tai lùng bùng. Trời đất ơi ! Thằng Quì ngoan ngoản, hiền lành, nó có được ý nghĩ kỳ lạ vậy sao? Trong đầu tôi, một tia sáng lóe ra. À, cái chữ " f " thường bắt gặp trong các bài luận văn với hai câu thơ lạ viết trên bìa sách giáo khoa của nó, bây giờ trở nên dễ hiểu quá. Rõ ràng có người hướng dẫn, dạy dỗ nó ngoài anh em giáo sư tụi tôi. 
          Nếu làm hoa làm hoa hướng dương 
          Nếu làm đá làm đá hoa cương 
Thằng Quì muốn làm đá hoa cương. Được lắm! Thứ đá xanh cứng rắn nầy, người ta sẽ dùng búa thầu để đập nhỏ nó ra để lót đường đi. Rồi nó sẽ bị thứ xe hủ lô chủ nghiã nghiền nát, cán dẹp. Không kịp suy nghĩ, tôi buột miệng: 
-Đừng, đừng, em sẽ đậu trong kỳ thi nầy. Còn nếu không may, thì em cũng đừng theo họ. Tôi không thích cái chủ nghiã coi con người như con vật nô lệ, tự động nhắm mắt tuân theo những định luật vật chất, kinh tế như cái răng trong một bánh xe, con ốc trong bộ máy. Con người phải được tự do trong tư tưởng, trong hành động... 
Quì ngát lời tôi: 
-Em thì không thích cái xã hội bất công, giàu nghèo xa cách quá. Thầy nghĩ thế nào khi thấy người thì lên xe xuống ngựa, kẻ thì cơm không có ăn, áo không có mặc !
-Tôi cũng đồng ý với em, chúng ta không thể chấp nhận sự bất công. Nhưng hiện tại đâu có nơi nào có sự công bằng tuyệt đối. Có thiên đường là nơi lý tưởng nhứt nhưng chỉ dành riêng cho người đã chết rồi ! Còn trên trái đất nầy thì chỉ có cái hạnh phúc tương đối thôi. Để so sánh hai chế độ, tôi nhắc cho em nhớ câu nói nầy của ông Churchill -"Chế độ tư bản bất công ở chỗ phân chia sự giàu có không đồng đều, còn chế độ cộng sản rất công bình vì nó chia rất đều sự nghèo đói " 
Nó ngồi trầm ngâm hồi lâu: 
-Thầy không biết mới nói vậy chớ trong đó có tới mười hai cái tự do, tám thứ quyền lợi. Mấy ảnh nói với em khi cách mạng thành công, mình sẽ được sung sướng lắm ! 
Tôi nghe xong, biết ý nó đã quyết, nhưng cố vớt vát: 
-Em phải biết ở dưới miếng mồi thơm, luôn luôn có cái lưỡi câu thiệt bén! Đừng để bị dối gạt bằng những lời hứa hẹn mơ hồ... 
Nó cắn chặt môi, mắt chớp chớp không nói. Tôi nắm lấy tay nó, thiết tha: 
-Nếu ở trong lớp, tôi biết có đứa nào nghĩ như em vừa rồi thì không cản đâu! Riêng Quì, tôi coi như mấy đứa em ruột trong nhà, tôi thấy có bổn phận phải nhắc nhở. Nghe tôi nói, Quì ơi, đừng có dại dột phiêu lưu. Tuổi trẻ máu nóng lắm, phải suy nghĩ kỹ trước khi dấn thân. Kẹt vô rồi là ra không được. Cái gì mình sắp làm phải nghĩ tới hậu quả. Đừng để lỡ lầm rồi mới nói câu -" phải chi hồi đó ..." 
Nó ngồi bất động, ánh mắt xa xôi, diệu vợi. Rồi nó cúi xuống, lượm một cục sỏi, chọi mạnh xuống mặt hồ, phủi tay đứng dậy: 
-Cám ơn thầy thương mà chỉ dẫn, em sẽ nghe lời... 

                                                                        *** 

Cũng may mà thằng Quì không nghe theo tôi nên khi tôi gặp lại thì nó đang bắt đầu bước thẳng trên con đường tương lai sáng trưng. Mới có mấy năm xa cách, Quì thay đổi hẵn ra. Đầu đội nón tai bèo, chân mang dép râu, bên hông đeo khẩu súng ngắn, vai mang chiếc bóp da. Nó ngồi tại cái bàn của ông Hiệu Trưởng, thân thể có hơi ốm hơn lúc trước, cộng thêm nét dày dạn, đen đúa, phong sương. Duy cặp môi và ánh mắt thì khác nhiều. Cặp môi thâm hơn. Vẻ trưởng thành, già giặn hiện rõ trên khuôn mặt. Những ngày đầu tháng năm, biểu ngữ cờ sao đầy phố. Trường tôi cũng đỏ rực một màu cờ máu. Ông Hiệu Trưởng, vốn đã nhỏ con, bây giờ gầy tóp lại. Cái cà-vạt thường ngày không còn. Ông lại bỏ áo ra ngoài, chưn mang dép, coi cũng có vẻ giác ngộ cách mạng. Duy có Hiếu già, vẫn áo bỏ trong quần, chưn mang giày da, tay cầm cặp sách như lúc còn đi dạy. Mặt anh bình thản, không buồn không vui. Anh em chúng tôi, buổi sáng đó, đến ghi danh trình diện với Quì. Nó đại diện Ty đến tiếp thu trường sở. Ông Hiệu Trưởng kề tai tôi nói nhỏ như tự trấn tỉnh: 
-Cũng may Quì nó đến tiếp thâu trường mình, người lạ thì mệt hơn. Dầu sao thì cũng là học trò cũ, anh em mình cũng không có làm gì bậy... 
Quì thấy chúng tôi lục tục kéo đến, chạy ra chào hỏi niềm nỡ. Nó gật đầu chào tôi, thái độ cũng y như xưa: 
-Em cũng có ý trông thầy nãy giờ. Lâu quá gặp lại mấy thầy, em mừng lắm. Không ngờ ngày nay đất nước lại độc lập, thanh bình. Thầy Điền hơi khá hơn lúc trước, còn thầy Hiếu thì y như xưa, không có gì thay đổi... 
Tôi cảm thấy hơi yên tâm. Ông Hiệu Trưởng dè dặt: 
-Anh Quì chỉ cho tôi biết cách thức làm sổ sách giấy tờ cho đúng cách...
-Thầy đừng lo. Sổ sách trường thì cũng đơn giản, không có gì khó khăn đâu. Để em làm cho mỗi thầy giấy trình diện để tiện việc đi lại. 
Anh bạn giáo sư nhạc, người đỡ đầu cho Quì ngày xưa, sung sướng hớn hở ra mặt. Anh coi cái vinh dự của Quì như của chính anh.. Anh khoa tay giửa đám đông giáo sư, nói bô bô: 
-Hồi Mậu Thân, tôi xúi nó theo cách mạng đó. Phải nghe lời người ta theo "nguỵ " thì bây giờ chết ngắc rồi !
Anh nói trơn tru, gọn lỏn. Tay chống nạnh, mặt nghinh nghinh qua tôi. Tôi cảm thấy nhột quá. Anh ngó ngang ngó dọc, thấy Hiếu già quần áo chỉnh tề, đi dọc theo hành lang, vẫn từ tốn, chững chạc, anh lẩm bẩm cốt để Quì nghe: 
-Mẹ, giờ nầy mà còn khệnh khạng, cái bịnh tiểu tư sản vẫn không chừa ! 
Quì nghe rõ nhưng không nói. Tôi không biết nó nghĩ gì trong đầu. Bảy năm không tiếp xúc làm sao tôi đoán được những đổi thay. Tôi nhìn lại cái bàn viết, cái tủ đựng hồ sơ, mấy cái ghế dành cho khách vẫn y chỗ cũ. Cái bản đồ Việt Nam vẫn treo trên tường. Cái cờ hiệu đoàn Hoàng Diệu ngày xưa tôi đặt thêu ở Sài Gòn vẫn còn đó. Duy có một sự thay đổi nhỏ. Ông Hiệu Trường đứng ở dưới, còn thằng Quì thì ngồi ở trên. Tôi đứng sau lưng ông Hiệu Trưởng nghĩ quẩn nghĩ quanh, sực nhớ tới câu nói của một chánh trị gia -"sau bất cứ một cuộc cách mạng nào chỉ có thành phần lãnh đạo thay đổi, còn nhân dân cũng hoàn là nhân dân". Như vậy ở trường Hoàng Diệu nầy, ai thuộc thành phần lãnh đạo ? Ai là nhân dân? 
Tôi, Hiếu già, các bạn giáo sư nam nữ được sắp hạng ở cái chỗ nào ? 
Còn chỗ nào nữa, tụi tôi đâu phải là nhân dân. Quì lại gần tôi: 
-Thầy đừng có lo. Chánh sách bảy điểm của chánh phủ lâm thời đã ghi rõ ràng, người ta phải thi hành cho đúng. Hơn nữa, nếu gì thì còn có em. Hỗng lẽ em lại không giúp được cho mấy thầy chút ít gì sao ! 
Sau đó gần một tháng, quả nhiên Quì đã giúp cho anh em giáo sư chúng tôi. Nó khiêng dùm cho ông Hiệu Trưởng cái ba lô bự, tay xách thêm cái xắc tay dùm cho Hiếu già, đưa tụi tôi thẳng lên xe nhà binh để đến trại học tập. Nó nắm tay tôi từ giả: 
-Thầy đi bình yên ! Học tạp một thời gian ngắn rồi về ! Ở trại đầy đủ tiện nghi, thầy đừng sợ thiếu thốn. Nếu có dịp, em sẽ đến thăm... 
Nó móc túi trên túi dưới, cuối cùng lôi ra gói Vàm Cỏ còn phân nữa, nhét vào túi áo tôi, nói ngập ngừng: 
-Thầy hút cho ấm khi đi đường... Tiếc quá, em chỉ có bấy nhiêu !
Tôi không biết hút thuốc nhưng vẫn lấy cho nó vui. Cái bao thuốc dẹp lép nằm trong tuí áo sát bên ngực, lòng tôi chừng ấm lại. Lúc xe gần chạy, chợt nhớ lại khung trường thân yêu tôi đã gần mười năm dạy ở đó, dặn vói với Quì:
-Ở trước thư viện, tôi mới trồng bốn cây bông điệp, mùa nắng nầy nếu không tưới, sợ nó khó sống, em nhớ dặn chú Cân nhớ chăm sóc, coi chừng dùm thầy... 
Khi xe đã chạy, một anh sĩ quan ngồi bên cạnh nói với tôi: 
-Thầy giáo lo xa quá, đất trống bây giờ dùng để trồng khoai lang, khoai mì, rau muống, ...còn chỗ nào mà trồng bông... 

                                                                        ***

Thằng cha nói bậy vậy mà trúng quá. Sáu tháng sau, tôi được trở về với miếng giấy phóng thích nhỏ bằng bàn tay có ghi câu: "Không thời hạn quản chế " Phước đức ông bà mười đời còn sót lại. Số tôi còn hơi đo đỏ sau cuộc bể dâu. Tôi đi trên con đường từ nhà đến trường, thấy người ta đông như ngày hội. Thiên hạ túa ra đường để bán quần áo cũ, chén dĩa, giày dép. Tôi không tìm thấy nụ cười trên các gương mặt xanh xao, héo úa đó. Mặt tôi thì cũng không hơn gì, tàn tạ, thê lương. Trong đầu tôi nhớ đến Hoàng Diệu rõ nét. Cái cổng trường có giàn bông giấy, cái hồ nước trồng sen trước phòng ông Hiệu Trưởng, các dãy hành lang dài hun hút... và nhứt là Quì, cái phao hy vọng mà tôi sẽ phải bám vào.
Tôi gặp ngay chú Cân ngồi ở băng đá thảnh thơi. Sân trường được chia ra nhiều khoảng nhỏ trồng rau lang, trồng cải. Cái giàn bông giấy bây giờ là giàn mướp lá xác xơ. Ngôi trường vẫn như xưa nhưng có gì xa lạ quá. 
-Thay đổi nhiều quá hả chú Cân ? 
-Thầy có biết tin ông Hiệu Trưởng mình bây giờ ở đâu ? 
-Khi đi tôi với thầy Hiếu ở chung trại. Ông Hiệu Trưởng được đưa đi nơi khác xa hơn, từ đó tới giờ không gặp nữa. 
Tôi đi vào câu hỏi chánh: 
-Quì làm việc có dễ chịu không chú Cân ? Sáng nay tôi muốn gặp nó có chút việc. Mới được về bỡ ngỡ quá, cái gì cũng xa lạ.. 
Chú Cân trố mắt nhìn tôi, ngạc nhiên: 
-Thầy không biết gì sao ? Quì đã nghỉ việc, về Cái Tắc làm ruộng. Tội nghiệp anh Quì, tuổi trẻ nhưng đàng hoàng, có tình có nghiã. Nghe đâu không đủ bằng cấp để làm Hiệu Trưởng, Ty kêu về cho làm việc văn phòng, bị chèn ép hoài, nên buồn xin thôi. À, thầy có cần vô văn phòng gặp anh Chuyên, Hiệu Trưởng mới không ? Ông nầy ở ngoài Bắc vô, tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Thanh Hoá, mười mấy tuổi đảng rồi đó ! 
Sau màn giới thiệu lý lịch xếp mới, chú chép miệng: 
-Gốc mạnh lắm, em ruột anh Hồng, Trưởng Ty mà... 

Tôi lắc đầu, từ giả chú Cân, đưa mắt nhìn lướt qua sân trường lần cuối. Mấy cây bông điệp trước thư viện có được vài lá non nhưng èo uột quá. tôi tự hỏi chừng nào nó mới trổ bông. Tôi thèm thấy những cánh hoa đỏ rực trên cành vào những mùa bãi trường. Cái ước ao có chú xíu đó mà cũng không đạt được. Chắc là vĩnh viễn tôi không thể đi dạy lại. Quì nó cách mạng như vậy còn bị bỏ rơi, huống chi tôi. Cũng may là còn đầy đủ đầu, mình, tay chưn mà về cày ruộng ở Chương Thiện. Trong khi đó hằng triệïu, triệu thằng Quì khác đã phơi xương trắng hếu ở dọc Trường Sơn, ở rải rác khắp nơi trên đất nước... 
Tôi miên man nhớ đến những đêm văn nghệ học sinh, Quì mập mạp với giọng ca nồng nàn. Tôi nhớ đến hai câu thơ nó đã viết trong cuốn sách giáo khoa. Tôi muốn gặp lại nó không phải để nói chuyện văn chương chữ nghiã như kiểu "Ba năm trấn thủ lưu đồn " mà là nói với nó một chân lý tầm thường nhứt: 
-Quì ơi " Em đừng có buồn ! Đừng mong làm hoa hướng dương, suốt ngày ngước nhìn mặt trời hoài, mỏi cổ lắm. Cũng đừng thèm làm đá xanh cứ phải lót đường cho người ta đi. Em phải nhớ một điều, vì lý tưởng cao cả, chúng ta có thể chấp nhận hy sinh thân xác để bón lúa, chớ đừng bao giờ dùng nó để làm phân bón cho thứ cỏ dại sinh sôi nẩy nở. Em là người có lòng đối với đất nước, hãy giữ vững niềm tin, đừng để lầm lạc lần nữa trong đời. Ngày nào toàn dân đứng lên phát cỏ dại, hy vọng lúc đó thầy trò mình sẽ có mặt ở tuyến đầu, nhớ nghe Quì ! 



Võ Kỳ Điền (15-05-2009)
http://vokydien.blogspot.com


 

6/ TƯỞNG NHỚ ÔNG THỦ-KHOA BÙI-HỮU-NGHĨA 

                                             (1807-1872) 


                                                                               Hàn Lâm Nguyễn Phú Thứ 


Sau khi thăm Trường Trung-Học Phan-Thanh-Giản trong thành phố Cần-Thơ xong, chúng ta rời nơi đây để  

đi về hướng thành phố Long-Xuyên, bắt buc đi trên đường Nguyễn-Trãi, qua cầu Cái-Khế, rồi nối tiếp đường  

Cách Mạng Tháng Tám hướng về đường liên tỉnh 91 để đi : Bình-Thủy, Trà Nóc, Ômôn, Thốt Nốt, An-Giang, 

Kiên Giang ... khoảng 5 cây số, về phía bên mặt (tay phải), chúng ta  để ý sẽ thấy cổng tam quan ghi bằng  

chữ lớn màu đỏ: M Thủ Khoa Nghĩa 1974 (tọa lạc tại số 442 đường Cách Mạng Tháng Tám, cách cầu Bình- 

Thủy không bao xa). Được biết cổng này được xây dựng vào năm 1974 bằng ci-măng (le ciment) cốt thép,  

phần trên được đặt tượng lưỡng long tráng men màu xanh, nâu đỏ. 


                                 Cổng mộ ÔngThủ -Khoa-Nghĩa 


                    Hai hàng cột có ghi câu đối bằng chữ quốc ngữ màu đỏ như sau : 

                    Phía bên trái : Võ Khí Siêu Quần Ý Chí Thanh Cao Như Hạt Trăng. 

                    Phía bên mặt : Văn Tài Xuất Chúng Uy Danh Liêm Khiết Tợ Rồng Vàng. 


                 Ảnh chụp tác -giả và Ông Lê-Văn -Hoằng trông coi ngôi mộ và Hè 2001 

                               Quang cảnh mộ Ông Thủ -Khoa-Nghĩa 


Từ cổng chánh đi vào khoảng 200 thước theo con đường rải đá ra hướng bờ sông  Hậu, thì thấy ngôi  mộ   

nằm về phía tay phải  theo hướng      Tây Đông giữa  khu dân cư đông đúc, toàn bộ khu vực mộ rộng 530  

thước vuông, mặt tiền có hàng rào cao 1 thước 40, có lắp ráp bê-tông (le béton) đặt thẳng đứng có chiều  

dày 0 thước 20 (dưới thời Pháp thuc, Cần-Thơ gồm 10 tổng, 94 xã, mộ Thủ-Khoa-Nghĩa được nằm trên địa  

phận xã An Bình, Tổng Định-Bảo, sau nhiều lần phân chia địa giới hành chánh, ngày nay mộ thuộc tổ 2, khu  

vực 2, đường Cách-Mạng Tháng Tám, phường An Thới, thành phố Cần-Thơ). 


Bước vào phạm vi mộ, chúng ta thấy các băng ghế đá mài, các chậu hoa mai chiếu thủy được sắp đặt xung  

quanh khu mộ chánh có diện-tích 44 thước vuông 80, lại có tường rào cao 1 thước bao bọc, giữa các trụ rào  

được lắp gạch Đồng Nai thông gió, nền mộ lót gạch hoa 2 tấc vuông, bên ngoài vòng rào lót gạch tàu 3 tấc  

vuông. M phần chánh có chiều dài 2 thước 20 và chiều ngang 1 thước 60 xây bằng đá mài màu hồng theo  

dạng hình bậc thang, phía trước đặt một lư hương, phía sau được đặt tượng bán thân Ông Thủ-Khoa-Nghĩa  

bằng ciment sơn màu bạc do nhà điêu khắc Trần-Thanh-Phong hi Văn-Học Nghệ Thuật Tỉnh An-Giang thực- 

hiện năm 1987.  


Bùi Hữu Nghĩa hiệu Nghi-Chi, sinh năm Đinh-Mão 1807 tại  thôn  Long  Tuyền,  tổng  Định Thới, phủ  Định - 

Yên,  trấn Vĩnh Thanh  nay thuộc  phường An Thới, thành  phố Cần Thơ, Tỉnh Cần Thơ, Ông đỗ thủ khoa kỳ  

thi hương năm Ất Vị (*)1835 và được bổ nhiệm làm tri huyện Trà Vang ngày 21 tháng 01 năm 

1872, Ông mất tại quê nhà , thọ 65 tuổi. 

 Bùi Hữu Nghĩa là một vị quan thanh liêm, một nhà thơ, nhà  soạn tuồng  nổi   tiếng  của  Miền  Nam  cuối   

thế  kỷ  XIX. 

Ông  đã  để  lại  cho  đời  nhiều  tác   phẩm có giá - trị  góp phần không  nhỏ  vào  kho   tàng  văn   học  

VIÊT NAM.  Cuộc  đời  và sự  nghiệp của  Ông  là  tấm  gương  sáng  của  sự  công   minh chính         trực  đấu  

tranh  chống  áp bức  cường quyền  đáng      để cho  hậu  thế  học tập  và  tôn vinh. 

Ngày 25 tháng 01 năm 1994 Bộ Văn Hóa Thông tin đã ra quyết  định công nhận mộ Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa là 

một  di tích lưu niệm danh nhân. 

(*) Năm Ất Vị 1835 xin hiểu là năm Ất Mùi, bởi vì xưa kia chữ Mùi có thể là chữ  kỵ  quý của thân-tộc dòng  

họ nhà vua chăng?, cho nên tránh không dùng. Hơn nữa, trong Thập Nhị Địa Chi, không có con vật nào tên  

Vị và chữ Mùi Vị là cận kề dễ hiểu, nên thay  chữ Mùi thành Vị là thế đó. Hơn nữa, nếu chúng ta lấy năm  

1835 Dương Lịch đổi sang năm Âm Lịch thì có kết quả là năm Ất Mùi (nếu cần xin xem 4 phương cách  

đổi từ năm Dương Lịch sau Công Nguyên sang năm Âm Lịch trong tác phẩm Tử Vi & Địa Lý Thực  

Hành cùng tác giả Nguyễn Phú Thứ). 


 Như đã thấy ở trên kia sơ lược về thân-thế và sự-nghiệp Ông Bùi-Hữu-Nghiã, chúng ta không thể dừng ở  

đây mà cần phải tìm hiểu thêm. Được biết, Ông là con của Ông Bùi-Hữu-Đá, sống bằng nghề chài lưới đủ  

ăn, không được giàu có, nhưng song thân Ông quyết tâm tạo điều-kiện cho Ông ăn học, bởi vì thấy Ông có  

bản tính thông minh lại hiếu học, nên mới trình-bày hoàn cảnh gia-cảnh với Ông xã-trưởng Ngô-Khắc-Giản,  

để nhờ giúp đỡ và được Ông Giản đồng ý đỡ đầu, giới-thiệu lên Ông lên Biên-Hòa để thọ giáo với thầy đồ  

Hoành tức Ông Nguyễn-Phạm-Hàm (một cộng sự viên của thủ lãnh Ông Lê-Văn-Khôi, con của Ông Tả Quân  

Lê-Văn-Duyệt hồi trước). Trong thời-gian học tại Biên-Hòa, Ông ở trọ nhà Ông Nguyễn-Văn-Lý, làng Mỹ- 

Khánh, tổng Chánh-Mỹ-Thượng, Ông được gia-đình Ông Lý thương mến giúp đỡ, bởi đức tính biết trọng  

kính làm người lớn và hiếu học. Vì vậy, Ông có nơi ăn học và được thầy dạy tận tình, cho nên sự học của  

Ông rất tiến bộ vượt bực hơn các bạn đồng môn. Đến tháng 2 năm Ất Mùi 1835, Ông được thầy cho ra ứng  

thí khoá thi hương tại trường Gia-Định và Ông được đỗ giải-nguyên tức đậu thủ khoa mới 28 tuổi. Từ  

đấy, danh tiếng của Ông vang lừng khắp lục tỉnh, trong dân gian thường gọi là Ông Thủ Khoa Nghĩa cho  

gọn thay vì gọi Ông Thủ-Khoa Bùi-Hữu-Nghiã đất Long-Tuyền (Cần-Thơ).  

Riêng gia-đình Ông Nguyễn-Văn-Lý rất mừng rỡ, làm tiệc thết-đãi vị tân khoa cùng ngỏ ý gả đứa con gái  

đầu lòng là cô Nguyễn-Thị-Tồn rất đẹp và lại thấm nhuần tứ đức tam tòng cho Ông. Một năm sau tức năm  

Bính Thân 1836 Ông đi tham dự khóa thi hội ở Huế, nhưng không may thi rớt. Tuy vậy, Ông vẫn được vua  

Minh-Mạng (1820-1848) ưu ái, cho vào triều đình Huế tập sự tại Bộ Lễ một thời gian, rồi thấy tài đức của  

Ông, nên được cử đi xứ Xiêm (Thái-Lan ngày nay). Khi trở về nước, Ông được bỗ-nhậm làm Tri Huyện  

Phước-Chánh, thuộc Phủ Phước-Long (Biên-Hòa). Thời gian này Ông kết-hôn cùng cô Nguyễn-Thị-Tồn con  

gái của Ông Nguyễn-Văn-Lý là người Ông hứa hôn trước kia. Ông có bản tánh thanh liêm, chánh trực lại  

thông minh và thương người, cho nên Ông nhiều lần xử kiện đã thẳng thắng từ chối hối-lộ và còn nghiêm-trị  

kẻ gian hoặc hống hách hà hiếp dân lành vì cậy quyền thế. Bởi xử như thế đã làm mất uy tín của bọn tham- 

nhũng ở cấp đầu tỉnh, để rồi Ông bắt buộc bị đổi vào ngày 21-1-1872 đi làm Tri Huyện Trà-Vang tức Trà- 

Vinh thuộc tỉnh Minh-Hải ngày nay. Được biết, Trà-Vang là địa danh có nhiều người Miên tức Thổ (Khmer),  

sống thành Sóc (làng ấp) và người Hoa tức Tàu sống cùng với bà con người Việt sống gắn bó với nhau, cho  

nên ở đây có những thế hệ sau đầu gà, đít vịt (tức lai Tàu Miên) rất đẹp. Nơi này, có một con rạch tên Láng  

Thé rất có nhiều tôm cá là nguồn lợi đáng kể cho dân chúng tại đây sanh sống. Trước kia, chúa Nguyễn-Ánh 

năm 1783 bị nhà Tây-Sơn đánh đuổi, nên đã về nơi này ẩn nấu, được người Miên giúp đỡ lương-thực, còn  

tình nguyện theo để tận tình phò chúa nữa. Do vậy, sau khi chúa Nguyễn-Ánh lên ngôi vào tháng 5 năm  

Nhâm-Tuất 1802, lấy quốc hiệu là Nam Việt, đóng kinh đô ở Phú Xuân Huế (Huế ngày nay), tức Thánh Tổ  

Gia-Long Nguyễn-Phúc-Ánh (1802-1819) đã xuống chiếu miễn thuế vĩnh viễn cho tất cả người Miên ở rạch  

Láng Thé khai thác hoa lợi tôm cá. Đến đời vua Tự-Đức (1847-1883) bọn quan lại nhà Nguyễn tham nhũng  

trắng trợn như  : Tổng-Đốc Trương-Văn-Uyển hiệp với Bố Chánh Truyện là quan đầu Tỉnh Vĩnh-Long nhận  

hối lộ của người Hoa, rồi cấp giấy bán rạch Láng Thé cho họ để độc quyền khai thác và còn cấm các người  

Miên không được khai thác tôm cá đã được vua Gia-Long đồng ý ban cho trước kia. Từ đó, các người Miên  

bị áp-bức càng ngày càng nhiều, không thể khai thác nguồn lợi sanh sống trước kia, làm cho cuộc sống chật  

vật không thể chịu nổi, mãi đến tháng 10 năm Mậu-Thân 1848, một số người Miên do Ông Nhêsrok trưởng  

Sóc trong vùng cầm đầu kéo đến gặp quan tri huyện Bùi-Hữu-Nghĩa để xin xét xử. Ông Bùi-Hữu-Nghĩa dựa  

vào chiếu chỉ của Vua Gia-Long mà phân giải để binh vực quyền lợi cho các người Miên, Ông nói :"Rạch  

Láng Thé đã được đức Thánh Tổ Gia-Long đã xuống chiếu miễn thuế vĩnh viễn cho tất cả người Miên ở rạch  

Láng Thé khai thác hoa lợi tôm cá. Nay có ai lớn hơn vua phê giấy bán rạch ấy thì các ngươi phải chịu, còn  

ai nhỏ hơn vua dám cả gan làm việc ấy thì dù chém nó đứt đầu cũng không sao cả". Sau khi được quan tri  

huyện xử tình lý công minh, các người Miên rất mừng cùng quyết-tâm đoàn-kết giành lại quyền làm chủ  

rạch Láng Thé, đưa đến cuộc xô xát giữa các người Miên và Hoa, làm cho bên người Hoa bị chém thiệt  

mạng gần 10 người, còn bên người Miên chỉ bị thương nhẹ và bị bắt một số giam. Nhân cơ hội này, Bố  

Chánh Truyện vì thù cá nhân trước kia, (có một lần Ông Thủ Khoa-Nghĩa sai lính đánh em vợ Bố Chánh  

Truyện về tội dựa thân thế quan trên đã láo xược trước huyện đường và còn gởi mấy roi về cho Bố Chánh  

Truyện để dạy em vợ. Bố Chánh Truyện rất tức giận hành động này, nhưng chẳng dám hở môi và luôn luôn  

chờ cơ hội trả thù) nên tiếp tay với Tổng Đốc Trương-Văn-Uyển bắt tri huyện Bùi-Hữu-Nghĩa gởi về Gia- 

Định, rồi làm sớ tâu trình vu khống về triều để kết tội Ông, xúi dân làm loạn để giết người. Vua quan triều  

đình Huế thấy tờ sớ, không cần điều-tra sự việc, vội-vàng chiếu chỉ kết-án tử hình ÔngThủ-Khoa-Nghĩa. 


Biết rõ bọn Uyển và Truyện có ý hại chồng, Bà Nguyễn-Thị-Tồn đứng trước nỗi ức oan tình đó, bèn thu xếp  

ra triều đình Huế để minh oan cho chồng bằng ghe đi từ Định-Tường ra thẳng Huế, mặt khác nhờ quan  

Kiệm, người em bạn dì của Ông Thủ-Khoa-Nghĩa lo chận giữ chiếu chỉ của triều đình Huế gởi vào Gia-Định,   

để có đủ thì giờ giải oan. Khi đến nơi bà tìm ngay tư dinh Ông Phan-Thanh-Giản đang làm Thượng-Thơ Bộ  

Lại để trình bày nổi oan ức đó, đồng thời tường-thuật các lộng hành, tham nhũng của các quan tỉnh Vĩnh- 

Long. Kế đến, bà nhờ Ông Phan-Thanh-Giản chỉ cách đến Tam Pháp Ty để kêu oan, Ông Phan-Thanh-Giản  

bằng lòng hướng dẫn tận tình giúp đỡ và còn làm giúp một tờ cáo trạng bày tỏ nỗi oan ức của chồng lên   

nhà vua. Rồi bà phải đợi đến đầu canh năm tức khoảng từ 3 giờ đến 5 giờ sáng, thuộc giờ Dần, bà đến Tam  

Pháp Ty (*) ở trong thành Huế để mạnh dạn đánh ba hồi trống, rồi quỳ trước sân rồng để dâng sớ cáo  

trạng, thì được Ông đi lệ chạy đến thâu tờ cáo trạng đem vào Ông quan trực nội thành để chuyển dâng lên  

vua Tự-Đức xem, kế đến nhà vua chuyển  giao cho Tam Pháp Ty xét xử và vua là người phán quyết chung  

thẩm bản án như sau : "Tha tội tử hình cho tri huyện Bùi-Hữu-Nghĩa, nhưng phải ra trận đoái công chuộc  

tội" 

(*) là tòa án để xử đặc-biệt nhứt nước về việc lớn và có án nặng không thể minh oan với ai, nạn nhân hay  

thân nhân chỉ đến đánh trống và dâng sớ cáo trạng, được gọi là kích cổ đăng văn tức "đánh trống cho người  

trên nghe". Cái trống này được đặt trước Tam Pháp Ty để dành cho người bị oan ức để đánh trống và dâng  

sớ kêu oan đến nhà vua vào giờ Dần mà thôi. Tòa án Tam Pháp Ty này không có nhóm định kỳ,  gồm có  

nhân viên cao cấp của: Bộ Hình, Đô Sát Viện và Tự Đại Lý xét xử trước, rồi mới trình nội vụ lên nhà vua để  

chung thẩm bản án. Được biết, Tòa án Tam Pháp Ty này tạm ngưng hoạt động từ vua Đồng-Khánh (1885- 

1888) vì bị giặc Pháp xâm lăng đưa đến hiệp ước Ất Dậu 1885 và đến năm 1901 thuộc vua Thành-Thái thứ  

13 mới được hoạt-đng trở lại đến năm vua Thành Thái 18 (1906) mới bỏ hẳn, để giao việc xét xử cho Bộ  

Hình (vua Thành-Thái trị vì 1889-1907). 


Nhìn lại bản án chung thẩm của Tam Pháp Ty đối với Ông Thủ-Khoa-Nghĩa, chúng ta không khỏi bùi-ngùi 

cho số phận quan dân dưới thời phong kiến vua chúa ngày xưa, không những chỉ có Ông Thủ-Khoa-Nghĩa  

mà còn thấy Ông Phan-Thanh-Giản cũng bị xử án một cách bất công như thế, bởi vì nhà vua nghe theo lời  

nịnh thần để đưa đến bản án khắc nghiệt như thế. Đáng lý ra, Ông Thủ-Khoa-Nghĩa không những được tha  

bổng mà còn được khen thưởng trọng hậu, bởi vì : "Ông Thủ-Khoa-Nghĩa đã thi hành đúng phép của Thánh  

Tổ Gia-Long Nguyễn-Phúc-Ánh tức Ông cố của vua Tự-Đức ban cho tất cả người Miên sanh sống ở Rạch 

Thé". Đàng này, vua Tự-Đức chỉ "Tha tội tử hình cho Ông Thủ-Khoa-Nghĩa, nhưng phải ra trận đoái công  

chuộc tội" tức thuyên chuyển ra trận đi nơi khác để đoái công chuộc tội, để bọn quan lại đầu tỉnh Vĩnh-Long 

tiếp tục tham nhũng, lộng quyền, để rồi 6 tỉnh Miền Tây Nam Kỳ lần lượt lọt vào tay giặc Pháp và vua Tự- 

Đức lại trút tất cả tội tình cho công thần Phan-Thanh-Giản, mà không thấy việc làm bất công đưa đến cái tội  

mất dân mất đất của mình? Nhân đây, xin trích bài thơ của Ông Thủ-Khoa-Nghĩa viết khi bị giam ở Tỉnh  

Vĩnh-Long như sau : 

Nhượng chăng là nhượng kẻ cậy voi, 
Lục đục thường tài cũng một nòi, 
Mờ mịt bởi mây che bóng nguyệt, 
Âm thầm vì trống lấp hơi còi, 
Kìa câu ích kỷ kinh còn tạc, 
Nọ kẻ thi nhân thánh hỡi roi! 
Lấn thấn hết suy rồi đến thới, 
Ngày qua tháng lại bước đường thoi. 

Đây là bài thơ Ông Thủ-Khoa-Nghĩa đã gói trọn tâm tư của mình, phải nhường nhịn để vâng mạng cho triều  
đình, chớ bọn quan lại đầu tỉnh Ông xem như không có tài cán gì mà sợ, bởi vì bị bọn họ vu cáo, vì thế nỗi  
oan ức này chưa được nhà vua thấu đáo. Hơn nữa, Ông chỉ là quan tri huyện nhỏ, nếu có giải bày cũng  
không được các quan thượng ty nghe theo, cho nên Ông chỉ tin tưởng và hy vọng thời gian sẽ làm sáng tỏ  
nỗi ức oan này khi vua thấy được. Quả thật, ý thơ trên đã được giải-bày đúng như chung thẩm của nhà vua. 
Riêng Bà Từ Dũ (*) mẹ của Vua Tự- Đức, được tin có Bà Nguyễn-Thị-Tồn là vợ của tri huyện Thủ-Khoa- 
Nghĩa, quê ở Biên Hoà (Nam Kỳ) ra tận triều đình Huế để đánh trống Tam Tòa kêu oan cho chồng, Bà lấy  
làm cảm-động một người đồng hương có nghĩa với chồng, nên bèn mời Bà Thủ-Khoa-Nghiã vào triều đình  
để tỏ lời khen ngợi và ban cho một tấm bản có chạm 4 chữ vàng : "Liệt Phụ Khả Gia". 

(*) Hoàng-Thái Hậu Từ-Dũ (1810-1901) tức Bà Phạm-Thị-Hằng (có sách ghi Hàng?), quê huyện Tân-Hòa, 
Tỉnh Gò-Công (thuộc Gia-Định thành). Con của Phạm-Đăng-Hưng Thượng Thơ Bộ Lễ, được tuyễn vào cung  
làm vợ Hoàng-Tử Miêng-Tông tức Vua Thiệu-Trị sau này và sanh được hoàng tử  Hồng-Nhậm tức vua Tự- 
Đức. 

Ngoài ra, với sự kiện việc này, trong dân gian ở Huế đã truyền khẩu bài ca dao để nói lên địa-danh thật đầy  
đủ và ý nhị như sau: 

Tỉnh Thừa Thiên dần hiền cảnh lịch, 
Non xanh, nước biết, điện ngọc đền rồng, 
Tháp bảy từng, Thánh Miếu, Chùa Ông, 
Chuông rung Diệu Đế, Trống khua Tam Tòa, 
Cầu Trường Tiền sáu nhịp bắc ngang, 
Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ, 
Đợi khách âu ca thái bình. 

Bà Nguyễn-Thi-Tồn cứu tử được chồng, rời kinh đô Huế trở về quê-hương  Biên-Hòa, rồi thời gian ít lâu bị  
lâm bịnh qua đời tại nhà cha mẹ ruột (Nhưng, có tài liệu nói : Trên đường Bà Nguyễn-Thị-Tồn ra Huế để  
minh oan cho chồng, Bà bị hiếp dâm, khi trở về, Bà lấy làm xấu hổ nên tự vận? xin kể ra đây để xin quý bậc  
cao minh thẩm xét và góp ý hư thực thế nào? ), để lại ba người con là : Bùi-Thị-Xiêm, Bùi-Hữu-Vàng và Bùi- 
Hữu-Tú (Ông Bùi-Hữu-Tú là đứa con út dòng thứ nhứt, đã thấy ghi trên tấm mộ bia bằng chữ Hán tại mộ  
Ông Thủ-Khoa Nghĩa ngày nay). 
Khi bà mất, Ông Thủ-Khoa-Nghĩa đang ra trận đoái công chuộc tội tại đồn Vĩnh-Thông thuộc huyện Hà-Âm 
tức Tịnh-Biên Châu-Đốc (An-Giang ngày nay) với chức Thủ Ngự, để dẹp yên các cuộc nổi loạn của dân Miên,  
rất gian khổ và Ông đã lập được thành tích đáng kể, nên được thăng chức Phó-Quản-Cơ. 
Quan tài của Bà phải chờ đến khi Ông Thủ-Khoa-Nghĩa trở về đọc văn tế cho vợ, với tình thương, lòng kính 
trọng và sự cảm-ơn can trường đã cứu Ông ... đến chết Ông chưa được đền đáp, xin trích dẫn như sau :  
"Phụng lìa đôi chếch mác, đừng nói sửa sang giềng mối, khi túng thiếu manh quần tấm áo, biết lấy ai mà  
cậy nhờ. Gà mất mẹ chít chiu, đừng nói nhắc biểu học hành, khi lạt thèm miếng bánh đồng hàng, biết theo  
ai mà thỏ thẻ. Phước nhà đặng rảnh mình cao sĩ, vượt mấy sông em dắt chút mẹ già, màn loan sao vắng  
bóng tiên nga, vầy một ngõ anh khóc cùng ba trẻ. Gươm thân ái không mài lẻm lẻm, người ta mặn  nồng  
chồng vợ, bao đành đứt mối tình duyên. Ngựa quang âm không giậm bỗng đùng đùng, người ta mắc cuộc 
tai nàng bao nỡ đứt đường sinh tử. Anh để nàng chẳng bằng tiền bằng của mà bằng cái tư lương. Anh giết  
nàng chẳng bằng gươm bằng dao mà bằng niềm khóc lụy ... Ngã bần khanh độc năng trợ, ngã oan khanh  
độc năng minh, triều quận công xung khanh thị phụ. Khanh bệnh ngã bất năng dưỡng, khanh tủ ngã bất  
đắc táng, giang sơn ưng tiếu ngã hà phu... (trên đây trích-dẫn một số văn tế vợ của Ông Thủ-Khoa-Nghĩa,  
không biết có đúng hoàn toàn hay không? xin các bậc cao minh bổ khuyết cho, thành thật đa tạ trước)." 

Ông Thủ-Khoa-Nghiã, khi về trấn nhậm ở Hà-Âm, đã thấy những đống xương do triều đình nhà Nguyễn  
đánh với các nước lâng bang: Xiêm (Thái-Lan), Lào và Cao-Miên (Khmer) suốt 20 năm (1827-1847) thuộc 
hơn giữa đời vua Minh Mạng (1820-1840) đến cuối đời vua Thiệu-Trị (1841-1847) bước vào vua Tự-Đức  
(1847-1883) mới chấm dứt, đã tàn sát không biết bao nhiêu người dân vô tội, rất thê lương và ngậm ngùi,  
nên Ông cảm tác bài thơ Kinh Quá Hà Âm như sau : 
Mịt mù mây đen kéo tối dầm, 
Đau lòng thuở nọ chốn Hà Âm, 
Đống xương vô định sương phau trắng, 
Vũng máu phi thường cỏ nhum thâm, 
Gió trốt dật dờ noi chiến lũy, 
Đèn trời leo lét dặm u lâm, 
Nghĩ thương con tạo sao dời đổi, 
Dắng  dỏi trên đường tiếng dế ngâm. 

Sau khi Bà Nguyễn-Thị-Tồn qua đời, những ngày còn lại Ông tiếp tục ở đồn Vĩnh-Thông, rồi Ông tục huyền  
với Bà  Lưu-Thị-Hoán (*) con gái của Ông Xã-trưởng Lưu-Văn-Dụ, sau này sanh được 4 người con (con gái  
đầu không rõ tên gì?) kế đến 3 người con trai là : Bùi-Hữu-Khánh, Bùi-Hữu-Sanh, Bùi-Hữu-Út. 

(*) Sở dĩ có tên Hoán hay Hoàn có lẽ do nguyên nhân sau : Ông Thủ-Khoa-Nghĩa phải lòng cô Lưu-Thị-Chỉ,  
con của Ông Lưu-Văn-Dụ, đám cưới sắp cử hành, thì Ông có việc phải đi xa, nên nhờ chị hai là Bà Bùi-Thị- 
Thừa (chị ruột) đi rước dâu. Đến khi Ông trở về mới hay cô dâu không phải là ý trung nhân, biết đàng gái  
tráo hôn, đem người chị là cô Nguyễn-Thị-Ý thay thế người em là cô Lưu-Thị-Chỉ, Ông vô cùng  hối tiếc  
nhưng việc đã dĩ lỡ rồi, nên đành hận và đổi tên Ý ra tên Hoán hay Hoàn (Hoán có nghĩa là đổi, ý nói đã đổi  
từ cô Chỉ sang cô Ý hoặc là Hoàn có nghĩa hoàn lại tức là đàng gái đem cô Chỉ giao lại cho Ông Thủ-Khoa- 
Nghiã và bắt cô Ý về?. Đó là, sự phân tách cho vui vậy thôi,  chớ giờ đây mấy ai biết sự trắng đen như thế  
nào?). Vì vậy, sau này Ông viết tuồng "Kim Thạch Kỳ Duyên" đã gởi trọn tâm tư cuộc đời của Ông giống  
như truyện Lục-Vân-Tiên của Ông Nguyễn-Đình-Chiểu và Ông đã nặng nề trách con người manh tâm tráo  
hôn chăng? ví như sau : 
 " Thối hôn mới mượn  kẻ trá hôn, 
Bất giá lại kiếm nơi cải giá..." 
Hơn nữa tuồng này đã mượn cốt truyện đời nhà Tống bên Tàu để nói lên tâm sự của mình, bằng chứng Bà  
Thạch-Vô-Hà là hiện thân của Bà Nguyễn-Thị-Tồn, một nghĩa phụ đã vượt biển Nam Hải về kinh đánh trống  
để minh oan cho chồng. Riêng Ông Kim-Ngọc chính là hiện thân của Ông Thủ-Khoa-Nghiã đã đậu trạng  
nguyên và được triều đình giao phó việc tiểu trừ bọn giặc Hóa Long nơi biên ải ... Nói tóm lại, vở tuồng Kim- 
Thạch Kỳ-Duyên, đã thành công về hai phương diện văn-chương và kỹ-thuật diễn đạt một mối duyên kỳ lạ,  
lại trân quý như hạt kim cương. Truyện này viết rất công  phu không  kém truyện Lục-Vân-Tiên của Ông  
Nguyễn-Đình-Chiểu viết, có thể nói là một tuyệt tác và phổ thông nhứt ở Nam Kỳ Lục Tỉnh lúc bấy giờ vào  
giữ thế kỷ XIX. 

Trong thời gian ở biên thùy xa xăm, gần biên giới Cao-Miên, nơi này thường xảy ra rất nguy hiểm cho tánh  
mạng Ông, có một lần bị lính Miên tập kích bất ngờ, Ông bị bắt sống đưa về Cao-Miên giam tai U-Đông. Vua  
Cao-Miên lúc ấy là Ông An-Đuông vốn đã biết danh tiếng quan tri huyện Thủ-Khoa-Nghĩa, qua vụ rạch Láng- 
Thé binh vực người Miên nên phải mất chức và bị đày nơi đây, nên mới bị lính Miên bắt, cho nên Ông vua  
Cao-Miên có cảm-tình đặc-biệt với Ông, tha tội chết  còn cho  ăn uống, rồi mới cho người người đưa Ông về  
nước. Kế đến, Ông được tin đứa con gái đầu lòng là Bà Bùi-Thị-Xiêm qua đời vào đúng ba năm tròn sau vợ  
Ông mất, trước cảnh đau lòng này, Ông trở về trước để lo tang lễ cho con, thăm mộ vợ và sau thăm lại quê  
nhà. Ông làm bài văn tế cho con gái, xin trích dẫn như sau : 
Thảo với Cha, lành với Mẹ như bát nước không xao; 
Ra cùng xóm, ở cùng làng, ước hột cơm chẳng cắn; 
Chị hay niềm, em hay nở, ai mà chẳng dấu chẳng yêu; 
Ăn bữa trước, lo bữa sau, mẹ đà khỏi dò dặn; 
Thấy con trẻ, Cha mừng hết lớn, mừng thì mừng, mà dạ hãy 
 băng sương; 
Nghe con rên, Cha sợ muốn điếng hồn, sợ thì sợ, chạy trời sao  
khỏi nắng; 
Khi nào biết làm giọng ảnh giọng e mà đức tớ, có giận thì la cái 
giống nó lộn rồng;  
Đời nào cầm roi vọt mà đánh em, có giận thì mắng cái thằng sao  
nó rắn; 
Nhớ tiếng con cười lời con thốt,càng thêm chua xót đời con; 
Đường ra ngõ vào còn đó, thúng may rổ vá còn đây, con đi đâu  
cho rêu cỏ mọc xanh? ... 

Ngoài ra, khi ra thăm mộ người vợ Ông có làm bài thơ Khóc Vợ, xin trích dẫn như sau : 
Đã chẵn ba năm mới đặng (*) thăm, 
Màn loan đâu vắng bặt hơi tăm, 
Gió đưa đâu thấy hình dương liễu, 
Đêm vắng ai hoài tiếng sắt cầm 
Chồng nhớ vợ lòng tơ bối rối, 
Con thương mẹ lụy ngọc tuôn dầm, 
Có linh chín suối đừng xao lãng, 
Thỉnh thoảng về thăm lúc tối tăm. 

(*) đặng tức là được. Bởi vì, ngày xưa thường kiêng cữ tên của dòng họ vua hay người lớn tuổi hay quan  
chức trong làng xã. 

Rồi từ đó, Ông mượn bài thơ cây vông để bày tỏ nỗi lòng chua chát của mình, bởi vì Ông "sanh bất phùng  
thời " không khác cây vông, xin trích dẫn  như sau : 
Uổng sanh trong thế mấy thu đông, 
Cao lớn làm chi vông hỡi vông, 
Da thịt càng già càng lộp xộp, 
Rut gan, chẳng có, có gai chông, 
Rường xoi cột trổ chưa nên mặt, 
Dậu mỏng rào thưa phải dùng lòng, 
Mới biết cây nào sanh cây nấy, 
Xuân qua bớn tớn cũng đâm bông. 

Sau bài thơ cây vông Ông lại làm tiếp theo bài thơ cây bần và câu cá, xin trích dẫn như sau : 
Cao lớn làm chi Bần hỡi Bần ! 
Uổng sanh trong thế đứng chần ngần, 
Lá xanh tợ liễu cành thưa thớt, 
Bông bạc dường mai nhụy sượng sần, 
Quyến luyến bầy Cò theo sập sận, 
Chiêu qui đàn Khỉ tới dần dần, 
Rường soi cột trổ chưa nên mặt, 
Cao lớn làm chi Bần hỡi Bần! 

Và bài thơ câu cá Ông tự ví mình như xưa kia Ông Lã Vọng chưa gặp Ông Văn Vương, nên ngồi câu cá trên  
sông Vị không có lưỡi câu, xin trích dẫn như sau: 
Danh lợi màng bao chốn lửa hầu, 
Thanh nhàn quen thú một cần câu, 
Giăng đường chỉ mảnh dong khơi rng, 
Thả miếng mồi thơm vực cạn sâu, 
Khói nước năm hồ tình cả đẹp, 
Gió trăng kho cũ cảnh riêng màu, 
Bá vương hội cả dầu chưa gặp, 
Thao lược này ai biết được đâu. 

Với hoàn cảnh thương tâm của Ông như:  Vì phải ở tiền đồn biên thùy heo hút, không xứng đáng với kiến  
thức, lại nữa thấy cảnh quan trường đầy tham nhũng bất công và kèm theo nổi buồn gia-đình, làm cho Ông  
càng ngày ngao ngán sự đời, nên Ông dâng sớ về triều đinh xin từ chức. Sau đó, Ông cùng vợ về quê ở   
Bình-Thủy (Cần-Thơ) để mở trường dạy học, làm thơ. Ông lấy biệt hiệu là : "Liễu Lâm chủ nhân". Nơi đây,  
Ông Thủ-Khoa-Nghĩa trở thành một nhà giáo để đào tạo cho lớp học trò trẻ, với niềm hy vọng sau này sẽ  
gánh vác việc nước, vì thế Ông giành nhiều thì giờ giáo huấn và khuyên học trò nên cố gắng học hành, làm  
những điều tốt, tránh những thói hư tật xấu, để sau này trở thành công dân hữu ích cho nhân quần xả hi, ví  
như bài thơ Khuyên Học Trò dưới đây : 

Ăn ngủ làm chi hỡi học trò, 
Có công đi học phải toan lo, 
Chơi bời hoa nguyệt đùng mơ tưởng, 
Học hỏi vàng thau phải đắn đo... 

Ngoài ra, Ông tham gia phong trào Văn Thân để chống giặc Pháp, không phải bằng sức lực mà bằng những  
bài thơ yêu nước nồng nàn để nung đúc tinh thần cho các phong trào yêu nước lúc bấy giờ? Xin trích dẫn  
như sau : 

Ai Xui Tây Đến 
Ai khiến thằng Tây tới vậy à? 
Đất bằng bỗng chốc nổi phong ba, 
Nam Kỳ chi thiếu người trung nghĩa, 
Báo quốc Cần Vương hà một ta. 

Và Ông rất tin tưởng và lạc quan cuộc chống giặc Pháp nhứt định thắng lợi và giành lại độc lập tự do cho  
quê hương chúng ta. Xin trích dẫn sau đây : 

Thời Cuộc 

Anh hùng sáu tỉnh thiếu chi đây, 
Đâu để giang san đến thế này! 
Hùm nương non rậm toan chờ thuở, 
Cáo loạn vườn hoang thác có ngày, 
Một góc cảm thương dân nước lửa, 
Đền Nam trụ cả há lung lay. 

Giặc Pháp biết Ông Thủ-Khoa-Nghĩa là một nhà khoa bảng tuy đã từ bỏ quan trường, nhưng lại là một nhà 
thơ và một sĩ phu yêu nước, đang cổ vũ tinh thần cho nghĩa sĩ  đứng lên cứu nước trừ giặc ngoại xâm rất  
tích cực, cho nên bọn thực dân Pháp đã dùng mọi cách để mua chuộc và dụ dỗ Ông. Nhưng với lòng yêu  
nước chân thành, căm thù giặc Pháp và khí tiết bất khuất của người chí sĩ, không thể lung lạc Ông. Vì thế,  
Ông bị giặc Pháp bắt giam tại Vĩnh-Long vào năm 1868 (Đây là lần thứ hai Ông bị bắt giam tại Vĩnh Long  
trong cuộc đời của Ông). Sau đó, Ông bị giải về Gia-Định, để tên tay sai Đỗ-Hữu-Phương bảo lãnh đưa về  
nhà riêng tiếp đãi tử tế, ngõ hầu thuyết phục Ông lần nữa, nhưng cuối cùng không thành và nơi này Ông đã  
nói thẳng với Ông Đỗ-Hữu-Phương là : "Đầu tôi không sợ rơi, mà chỉ sợ phải đi chung với những kẻ đang  
thiêu đốt giang san này". Cuối cùng Ông Đỗ-Hữu-Phương đành phải lựa lời nói với Pháp để thả Ông về. Dù  
đã được trả tự-do, nhưng Ông không an tâm và nỗi lo cho đất nước vẩn canh cánh bên lòng, cho nên Ông  
lúc nào cũng mong ước được :                           
 Non nước ví như mà cũ được, 
Trong tuần say mãi sướng hơn không? 

Khi nói Ông Thủ-Khoa-Nghĩa làm thơ khi ẩn sĩ, thì không thể kể hết những bài thơ Ông đã làm. Nhân đây,  
xin trích thêm một bài thơ tiêu biểu, ví như sau : 

Quan Công thất thủ Hạ Bì 

Hạ Bì ngày nọ chẳng màng nào,  
Gương sáng chi lầm chước túng thao, 
Chén rượu anh em keo gắn chặt, 
Tấm son tôi chúa đuốc chong cao, 
Theo rồng dốc nhóm mấy trời Hán, 
Xuống ngựa đâu tham bạc đất Tào, 
Hai mối cang thường gồm đặng cả, 
Ngàn năm thơm để miệng người rao. 

Bài thơ này, ý nói tán dương đức độ và lòng trung hậu của Ông Quan-Vân-Trường, nhưng chính bài ngụ ý  
nói lên chân tướng và sĩ khí của Ông. 

Được biết, khi Ông  Thủ-Khoa-Nghĩa  về ẩn sĩ ở Bình-Thủy, Ông đã cùng  với Ông  Phan-Văn-Trị  tham gia  
nhóm Tao Đàn Bà Đồ (Tao Đàn Bà Đồ trước kia do Bà Nguyễn-Thị-Nguyệt sáng lập tại làng Bình-Thủy (Cần- 
Thơ), với mục đích phát huy truyền thống văn hóa dân-tộc qua thơ văn, trụ cốt là các nho sĩ trí thức đương  
thời). Theo hợp tuyển thơ văn Việt-Nam (1858-1920) của Ông Huỳnh-Lý chủ biên, đặt Ông Bùi-Hữu-Nghĩa  
lên đầu sách tức đứng ngôi thứ nhứt trong hàng các thi văn sĩ cân đại Việt-Nam. Bởi vì, Ông là nhà thơ cao  
tuổi, hơn Ông Nguyễn-Đình-Chiểu 15 tuổi, hơn Ông Phan-Văn-Trị 23 tuổi, hơn Ông Nguyễn-Thông 20 tuổi  
...là bậc đàng anh không những về tuổi mà cả về tài đức nữa và trong các thi sĩ Đồng Nai (Nam Kỳ) lúc bấy  
giờ chỉ có tên Ông đi vào ca-dao truyền khẩu trong dân gian, được mọi người trọng vọng về tài năng nghệ  
thuật của đất này như sau : 

Đồng Nai có bốn rồng vàng, 
Lộc họa, Lễ phú, Sang đàn, Nghĩa thi. 

Riêng ở Vĩnh-Long thì có ca-dao trong dân gian như sau : 
Vĩnh-Long có cặp rồng vàng, 
Nhứt Bùi-Hữu-Nghĩa, nhì Phan-Tuấn-Thần.   

Quả thật vậy, một hôm Ông Phan-Văn-Trị cùng Ông Thủ-Khoa-Nghĩa đi vườn Liễu Lâm (nơi mộ Ông hiện  
nay)  để ngâm thơ cùng nhóm Tao Đàn Bà Đồ. Khi qua sông Bình Thủy, Ông Phan-Văn-Trị đọc cho Ông  
Thủ-Khoa-Nghĩa nghe 4 câu thơ như sau: 
Ta người không chiến bại, 
Nước mất nhưng còn dân,  
Mai mốt dân đòi lại, 
Non nước này của dân. 

Ông Thủ-Khoa-Nghĩa khen : "Chú tiến xa quá, thật là ý chí của một sĩ tuổi thanh xuân". Ông Phan-Văn-Trị  
tức Cử Trị lúc bấy giờ (bởi vì Ông Phan-Văn-Trị đã đậu tiến sĩ) nói tiếp, người ta nói : "Nước của vua, nhưng  
vua để mất, dân đòi lại trên tay giặc là nước của dân chớ sao!" 
Đến nơi, trong bửa tiệc thân mật và tương đắc. Bà Đồ luôn miệng ngâm  thêm 2 câu  thơ ngũ ngôn, ý muốn  
chọc tức hai nhà thơ trứ danh thời bấy giờ : 

Nghĩa, Trị đến tao đàn, 
Lo đời hay vấn an? 

Ông Thủ-Khoa-Nghĩa liền nói : "Nếu vậy chúng ta hãy làm cho trọn bài thơ ngũ ngôn, bát cú cho vui cô, chú 
nghĩa sao?" Cử Trị và Bà Đồ giơ tay tán thành. 

Ông Thủ-Khoa-Nghĩa  đọc câu thứ ba : 
Tình người, tình tổ quốc, 

Ông Cử Trị đối câu thứ tư : 
Nợ thế, nợ giang san. 

Bà Đồ ứng khẩu câu thứ năm : 
Đuổi giặc nên dùng võ, 

Ông Cử Trị đáp câu thứ sáu : 
Rèn lòng phải dụng văn. 

Ông Thủ -Khoa-Nghĩa chuyển câu thứ  bảy : 
Võ văn  cùng hoạt đng, 

Ông Cử Trị kết câu thứ tám : 
Toàn diện vượt nguy nan. 

Để rồi kết thành bài thơ liên ngâm của ba người như sau : 
Nghĩa, Trị đến Tao Đàn, 
Lo đời hay vấn an? 
Tình người, tình tổ-quốc, 
Nợ thế, nợ giang san. 
Đuổi giặc nên dùng võ, 
Rèn lòng phải dụng văn. 
Võ văn cùng hoạt đng, 
Toàn diện vượt nguy nan. 

Như chúng ta đã thấy, nhóm Tao Đàn Bà Đồ của Ông Thủ-Khoa-Nghĩa, là người kế thừa của tư tưởng, đạo  
đức của hai nhóm Chiêu-Anh-Cát và Gia-Định Tam Gia Thi Xã. Được biết nhóm Chiêu-Anh-Cát ra đời khoảng  
năm 1739 tại Hà-Tiên (Rạch-Giá), có hai nhà thơ danh tiếng tiêu biểu là Ông Mạc-Thiên-Tích (1710-1780) và 
Ông Nguyễn-Cư-Trinh (1716-1767) cùng nhau xướng họa các bài thơ như sau: Hà-Tiên Thập Vịnh, Minh bột  
di ngư, Châu thị trinh liệt tặng ngôn, Thi truyện tặng Lưu tiết phụ ... của ông Mạc-Thiên-Tích - Quảng Ngải  
Thập Nhị Cảnh, Đạm Am thi tập ... của Ông Nguyễn-Cư-Trinh. Riêng nhóm Gia-Định Tam Gia Thi Xã ra đời  
khoảng hơn 40 năm sau nhóm Chiêu-Anh-Cát, có Ông Võ-Trường-Toản là người đứng đầu nhóm này, ngoài  
ra còn có các Ông : Trịnh-Hoài-Đức (1765-1825) đã sáng tác 18 bài thơ chữ Nôm đi sứ Trung Quốc, thơ chữ  
Hán có Cấn Trai thi tập, về sử địa bằng chữ Hán có Gia-Định-Thành Thông Chí... Lê-Quang-Định (1761- 
1813) thơ chữ Hán có Hoa Nguyên thi thi thảo, về điạ lý có Nhất Thống Dư Địa Chí... Ngô-Nhân-Tĩnh (1761- 
  1813) phú chữ Nôm có Cổ Gia-Định Vịnh, thơ chữ Hán có Thập Anh Đường thi tập... Do vậy, các thi phẩm  
của người nhóm Tao Đàn Bà Đồ (Bình-Thủy - Cần-Thơ) phản ảnh trung thực tâm-hồn yêu nước, bất-khuất  
chống lại giặc Pháp và nối tiếp là Ông Nguyễn-Đình-Chiểu cũng có hành động giống nhau như chúng ta đã  
thấy ở trước. 

Ông Thủ-Khoa-Nghĩa càng già càng buồn, vì đất nước chưa thoát khỏi ngoại xâm, một số bạn đồng liêu  
trước kia như : Đỗ-Hữu-Phương, Tôn-Thọ-Tường ... làm tay sai cho giặc, cho nên trong lòng Ông lúc nào  
cũng lo lắng và bất an, cái tâm trạng đó đã được Ông viết thành các câu thơ như sau : 

Soi gương bỗng thấy đầu râu bạc, 
Nước non có mắt thấy cho già... 
hoặc là : 
Nước non hãy còn đang bấy bá, 
Đất trời sao nỡ khiến lay vay ... 

Tuy không còn đủ sức chống chọi với cuộc đời, nhưng Ông vẫn luôn luôn theo dõi những diễn biến thăng  
trầm của thế cuộc, khi nghe tin các cuộc nghĩa sĩ  chống giặc Pháp lần lượt thất bại, kế đến vua quan nhà  
Nguyễn đầu hàng giặc, Ông không chịu đựng nổi sự đau khổ và phải qua đời năm Nhâm Thân1872, hưởng  
thọ 65 tuổi, để lại những sự kính trọng và thương mến bằng ngôi mộ ngày nay. Hơn nữa, nếu có ai có dịp đi  
thăm viếng Châu-Đốc,  sẽ  tìm thấy  ngôi trường trung  học mang tên Ông, trường  này thành lập sau  các  
trường : Nguyễn-Đình-Chiểu (Mỷ-Tho), Phan-Thanh-Giản (Cần-Thơ) ... 

Sau khi chúng ta rời khỏi m Ông Thủ-Khoa-Nghĩa, chúng ta tiếp đi về hướng Ô-Môn, Thốt-Nốt ... qua khỏi  
cầu Bình-Thủy, thấy ngay ngôi đình Bình Thủy nơi đây cũng thờ Ông, bởi vì Ông sống xem như tướng, nên  
chết thành thần vậy. 

 (Bài này viết theo nhiều tài-liệu của Ông Lê-Văn-Hoằng, người giữ tư liệu lưu trữ ngôi mộ Ông Thủ Khoa- 
Nghĩa cung cấp, nhân đây xin cảm Ông Mười Hoằng rất nhiều). 

(Trích dẫn tác phẩm Tìm Hiểu Danh Nhân 1 của Gs Nguyễn-Phú Thứ) 

                                                                                                                10 


                                                                                    

%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%

 

Mời quý vị và các bạn nghiên cứu tài liệu lịch sử hết sức có giá trị:

7/ "Lĩnh Địa Thời Vua Trưng"

Bác Sĩ Trần Đại Sỹ



6.1. Vua Bà của Trung-quốc là vua Trưng,

Trong những năm 1978-1979 khi dẫn phái đoàn Ủy-ban y học Pháp-Hoa (CMFC) đi trao đổi tại các tỉnh cực Nam Trung-Quốc như Quảng-đông, Quảng-tây, Vân-nam, Quý-châu và Tứ-xuyên... tôi thấy khắp các tỉnh này, không ít thì nhiều đều có đạo thờ vua Bà. Nhưng tôi không tìm được tiểu sử vua Bà ra sao. Ngay những cán bộ Trung-quốc ở địa phương, họ luôn đề cao vua Bà, mà họ cũng chỉ biết lờ mờ vua Bà là người nổi lên chống tham quan. Khắp năm tỉnh, tôi ghi chú được hơn trăm đền, miếu thờ những tướng lĩnh thời vua Bà.

Bấy giờ tôi lại tìm thấy ở Hồ-nam, nhiều di tích về đạo thờ vua Bà hơn. Tại thư viện bảo tồn di tích cổ , tôi tìm thấy một cuốn phổ rất cổ, soạn vào thế kỷ thứ tám chép sự tích nữ vương Phật Nguyệt như sau:

« Ngày xưa, Ngọc-hoàng Thượng-đế ngự trên điện Linh-tiêu, có hai công chúa đứng hầụVì sơ ý hai công chúa đánh vỡ chén ngọc. Ngọc-hoàng Thượng-đế nổi giận đầy hai công chúa xuống hạ giớị Hai công chúa đi đầu thai được mấy ngày thì Tiên-lại giữ sổ tiên-giới tâu rằng có 162 tiên đầu thai xuống theo hai công chúa. Ngọc-hoàng Thượng-đế sợ công chúa làm loạn ở hạ giới, ngài mới truyền Thanh-y đồng tử đầu thai để theo dẹp loạn. Thanh-y đồng tử sợ địch không lại hai công chúa, có ý ngần ngừ không dám đị Ngọc-hoàng Thượng-đế truyền Nhị thập bát tú đầu thai theo.Thanh-y đồng tử sau là vua Quang Vũ nhà Hán. Nhị thập bát tú đầu thai thành hai mươi tám vị văn thần võ tướng đời Ðông-Hán.Còn hai công chúa đầu thai xuống quận Giao-chỉ, vào nhà họ Trưng. Chị là Trắc, em là Nhị. Lúc Trưng Trắc sinh ra có hương thơm đầy nhà, thông minh quán chúng, có sức mạnh bạt sơn cử đỉnh, được gả cho Ðặng Thi-Sách.hi-Sách làm phản, bị Thái-thú Tô Ðịnh giết chết. Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa, được 162 anh hùng các nơi nổi lên giúp sức, nên chỉ trong một tháng chiếm hết sáu quận của Trung-quốc ở phía Nam sông Trường-giang: Cửu-chân, Nhật-nam, Giao-chỉ, Quế-lâm, Tượng-quận, Nam-hảị Chư tướng tôn Trưng Trắc lên làm vua, thường gọi là vua Bà. Quang-Vũ nhà Hán sai Phục-ba tướng quân Tân-tức hầu Mã Viện. Long-nhương tướng quân Thận-hầu Lưu Long đem quân dẹp giặc. Vua Bà sai nữ tướng Phật Nguyệt tổng trấn hồ Ðộng-đình. Mã Viện, Lưu Long bị bạịVua Quang Vũ truyền Nhị thập bát tú nghênh chiến, cũng bị bại. Nữ vương Phật Nguyệt phép tắc vô cùng, một tay nhổ núi Nga-mi, một tay nhổ núi Thái-sơn, đánh quân Hán chết, xác lấp sông Trường-giang, hồ Ðộng-đình, oán khí bốc lên tới trời.Ngọc-hoàng Thượng-đế sai thiên-binh, thiên-tướng trợ chiến cũng bị bạị Ngài phải sai thần Du Liệt sang Tây phương cầu cứu Phật Như Lai. Ðức Phật sai mười tám vị Kim-cương, ba ngàn La-hán trợ chiến cũng bị bạị Cuối cùng ngài truyền Quán Thế Âm bồ tát tham chiến. Nữ vương Phật-Nguyệt với Quan-Âm đấu phép ba ngày ba đêm, bất phân thắng bại. Sau Quán Thế Âm thuyết pháp nữ vương Phật Nguyệt giác ngộ, bỏ đi tu.

Ta nhân ngày lành, viết lại chuyện xưa, xin dâng đôi câu đối:

Tích trù Ðộng-đình uy trấn Hán,
Phương lưu thanh sử lực phù Trưng


(Một trận Ðộng-đình uy trấn Hán
Tên còn trong sử sức phù Trưng).

Bỏ ra ngoài những huyền hoặc về Nữ-vương Phật-Nguyệt, tài liệu chứng minh: Đạo thờ vua Bà tại năm tỉnh Nam Trung-quốc là di tích của lòng tôn kính thờ anh hùng dân tộc của tộc Việt trên lãnh thổ cũ của người Việt còn sót lại. Vua Bà mà người Trung-hoa thờ như một thứ tôn giáo, chính là vua Trưng.

Kết luận:

« Khi đã có nữ tướng Phật Nguyệt đánh trận Trường-sa, hồ Động-đình. Mà có trận hồ Động-đình thì lãnh thổ thời Lĩnh-Nam, phía Bắc quả tới phía Nam sông Trường-giang ».

6.2. Quả có trận Trường-sa, hồ Ðộng-đình năm 39 sau Tây-lịch,

Huyền sử (những cuốn phổ) nói rằng: Khi bà Trưng Nhị cùng các tướng Trần Năng, Phật Nguyệt, Trần Thiếu-Lan, Lại Thế-Cường đánh Trường-sa vào đầu năm Kỷ-Hợi (39 sau Tây-lịch). Trong trận đánh này, nữ tướng Trần Thiếu-Lan tử trận, được mai táng ở ghềnh sông Thẩm-giang (8). Thẩm-giang chính là đọan sông ngắn ở Bắc, tiếp nối với hồ Động-đình. Một cuốn phổ khác, chép vào thời Nguyễn nói rằng: Các sứ thần triều Lý, Trần, Lê khi qua đây đều có sắm lễ vật đến cúng miếu thờ bà Trần Thiếu-Lan. Năm 1980 tôi đến đây tìm hiểu. Không khó nhọc tôi tìm ra trong cuốn địaphương chí, do sở du lịch Trường-sa cấp, một đoạn chép: « Miếu thờ liệt nữ Trần Thiếu-Lan ở đầu sông Tương. Hồi cách mạng văn hóa bị phá hủy. Tượng đồng bị nấu ra. Vệ binh đỏ phá luôn cả bia đá ».

Tôi tìm tới nơi, thì miếu chỉ còn lại cái nền bằng đá ong, mộ vẫn còn.(9)

Kết luận:

« Thời Lĩnh-Nam quả có việc Trưng Nhị, Trần Năng, Hồ Đề, Trần Thiếu-Lan, Lại Thế-Cường đánh trận Trường-sa. Trong trận, nữ tướng Trần Thiếu-Lan tuẫn quốc. Khi có trận đánh này, thì lãnh địa thời Lĩnh-Nam quả gồm có hồ Trường-sa, hồ Động-đình ».

6.3. Quả có trận Bồ-lăng, năm 42 sau Tây-lịch,

Huyền sử kể rằng: ba tướng họ Đào là Chiêu-Hiển, Đô Thống và Tam-Lang được vua Trưng trao cho trấn tại Tượng-quận (Vân-nam) . Nhưng vì quân ít, thế cô, ba ông không chống lại với quân Hán, do Vương Bá chỉ huy. Ba ông đã tự tận. Hiện tại đền thờ của ba ông có đôi câu đối:

Tượng-quận dương uy nhiêu tướng lược,
Bồ-lăng tuẫn tiết tận thần trung.


Nghĩa là:
Trận Tượng-quận dương oai, rõ tài tướng giỏi.
Bến Bồ-lăng tuẫn tiết, tỏ ra thần trung.

Hầu hết các sử gia đều cho rằng: Bồ-lăng tức là bến Bồ-đề, ngoại ô Thăng-long. Vả lãnh thổ Việt-Nam hồi đó đâu có rộng vậy? 
Tôi không tin lý luận này. Tôi quyết có trận Tượng-quận. Vì sao? Vì ba ngài chiến đấu tại Tượng-quận, khi Tượng-quận thất thủ, tuẫn tiết thì tuẫn tiết tại chỗ, có đâu rút từ Tượng-quận về tới Long-biên (Hà-nội) trải mấy nghìn cây số, rồi mới tự tử? Vả cái tên bến Bồ-đề mới xuất hiện vào năm 1427-1428 khi vua Lê Thái-tổ vây Đông-đô (Thăng-long).

Vì vậy, trong dịp hè năm 1982, tôi cầm đầu phái đoàn CMFC sang Vân-Nam, Trung-quốc, để nghiên cứu về một giống trà có khả năng trị tuyệt chứng Cholestérol, Triglycéride. .. Lợi dụng dịp nhầy, tôi quyết tìm cho ra sự thực.
 


Ghi chú của Tăng Hồng Minh:

Phái đoàn gồm:
Trưởng-đoàn: Bác-sĩ Trần Ðại-Sỹ,
Thành viên: Bác-sĩ Pascale Vareilla (Biologie), Claude Tarentino (Anatomie), Antonio Fernandes 
(Cardiologie. ) Các dược sĩ: Valérie Cordinante, Jean Marie Limager. Kỹ sư canh 
nông Antoine Reynault, và một diễn viên điện ảnh Hương-cảng.

Trong chương trình phái đoàn chỉ công tác tại các vùng thuộc Vân-Nam như: Chiêu-dương, Đông-xuyên, Khâu-bắc, Nguyên-dương, Bảo-sơn, Điền-Bắc, Côn-minh; rồi dùng phi cơ từ Côn-minh trở về Paris . Nhưng khi tới Đông-xuyên, giáo sư Trần Đại-Sỹ tìm ra dấu vết cuộc chiến giữa quân vua Trưng và quân Hán, mà không rõ ràng cho lắm. Ông dẫn phái đoàn trở lại Côn-minh, sau khi thảo luận với giáo-sư sử học Đoàn Dương của đại học Văn-sử, được giáo sư Đoàn cho biết: "Trong truyền thuyết dân gian nói rằng hồi đầu thế kỷ thứ nhất có trận đánh giữa quân vua Bà với quân Hán tại Bồ-lăng. Nay Bồ-lăng nằm trên lãnh thổ Tứ-xuyên, chỗ ngã ba sông Trường-giang và Ô-giang." Thế là giáo sư Trần Đại-Sỹ đề nghị phái đoàn dùng đường thủy về Hồ-Nam, sau đó đáp phi cơ từ Hồ-Nam ra Hương-cảng, rồi đi Paris .

Trên đường từ Độ-khẩu (Vân-Nam) đi Hồ-Nam, sẽ qua... Bồ-lăng. Được đi chơi, dĩ nhiên phái đoàn mừng không sao tả siết!!!. Dĩ nhiên túi tiền của CMFC vơi đi 53.074 dollars nữa để chi cho phái đoàn.

Theo tôi, với số tiền ấy, mà kết quả tìm được Tây-biên của Lĩnh-Nam, cũng rẻ chán. Thế nhưng khi 
trở về Paris, vụ này đồn đại ra ngoài, một Bác-sĩ Việt-Nam tên Trần L. (từng là bộ trưởng Y-tế hồi VNCH), viết thư cho ông bộ trưởng Văn-hóa Pháp, tố cáo Giáo-sư Trần Ðại-Sỹ lợi dụng chức vụ trưởng đoàn công tác y khoa, để tìm di tích cổ sử viết sách. Ông Bộ-trưởng trả lời đại ý: "Bác-sĩ Trần Ðại-Sỹ không dùng một xu (centimes) nào của chính phủ Pháp, nên bộ không có thẩm quyền."

Cuối thư ông Bộ-trưởng hạ một câu: "Ví dù Bác-sĩ Trần Ðại-Sỹ có lợi dụng chức vụ, có dùng tiền của bộ Văn-hóa, mà tìm tư liệu làm giầu cho thư viện Pháp thì là điều đáng khuyến khích. Hơn nữa tài liệu đó làm lợi cho Việt-Nam, Ông (Trần L.) phải vui mừng mới phải chứ."
Tăng Hồng Minh tôi là người Việt gốc Hoa, tôi xin tiết lộ một chi tiết này, để các vị độc giả Việt-Nam suy nghĩ!!!


Thế là phái đoàn dùng tầu đi từ Độ-khẩu theo Kim-sa-giang (Trường-giang) qua Nam-khê, Giang-tân, Trùng-khánh, tới ngã ba sông Ô-giang, Trường-giang thì gặp bến Bồ-lăng. Tại đây tôi được sở du-lịch chỉ cho xem miếu thờ ba vị thần, tướng của vua Bà. Nhưng họ không biết tên vua Bà cùng ba vị tướng. Cả vùng này có đạo thờ vua Bà (lên đồng). Hồi trước 1949 rất thịnh. Sau cách mạng Văn-hóa (1965-1967) miếu được cấp cho dân chúng ở. Hỏi hướng dẫn viên du lịch về vua Bà, họ chỉ cho biết vua Bà là người nổi lên chống tham quan thời Hán. Tôi đến thăm miếu. Miếu khá lớn, chủ hộ ở trong miếu trước đây là cán bộ Văn-hóa Bồ-lăng.

Trước miếu có nhiều câu đối, nay chỉ còn lại có ba. Ông chủ hộ khoe rằng để bảo tồn di tích văn hóa, hằng năm ông phải mua sơn tô chữ cho khỏi mất:

Khẳng khái, phù Trưng, thời bất lợi,
Ðoạn trường, trục Ðịnh, tiết... can vân.


Nghĩa là:
Khẳng khái phù vua Trưng, ngặt thời của Ngài không lâu.
Ðuổi được Tô Ðịnh, nhưng đau lòng thay, phải tự tận, khí tiết ngút từng mây.

Tôi xin vào trong miếu xem, thì bệ thờ nay là nơi vợ chồng ông nằm ngủ. Hai bên bệ cũng có đôi câu đối.

                                       Giang-thượng tam anh phù nữ chúa,
                                        Bồ-lăng bách tộc khốc thần trung.

                                                                Nghĩa là:
                                        Trên sông Trường-giang, ba vị anh hùng phò tá nữ chúa.
                                        Tại bến Bồ-lăng, trăm họ khóc cho các vị thần trung thành.

Ông chủ hộ thì cho rằng bách tộc là toàn dân Trung-quốc. Tôi giảng cho ông nghe về sự tích trăm con của Quốc-tổ, Quốc-mẫu. Vì vậy chữ bách tộc đây để chỉ người Việt. Ông thích lắm. Ông chỉ vào khoảng trống của hai cái cột thuật rằng trước kia cũng có đôi câu đối, nhưng bị vạc mất. Ông đề nghị tôi làm một đôi khác thay thế. Tôi nhờ hướng dẫn viên du lịch mua giùm hai hộp sơn. Một hộp sơn đỏ loại láng và một hộp loại thiếp vàng. Ông với tôi sơn cột mầu đỏ. Chiều hôm đó sơn đỏ khô, tôi trở lại viết bằng sơn thiếp vàng đôi câu đối có sẵn tại đền thờ ba ngài ở thôn Ngọc-động, huyện Gia-lâm, Hà-nội: 

Tái Bắc tức chinh trần, công cao trục Định,
Bồ-lăng dương nộ lãng, nghĩa trọng phù Trưng.


Nghĩa là:
    Ải Bắc yêu gió bụi can qua, công cao đuổi Tô Định.

Bồ-lăng nổi bao đào, nghĩa nặng phù vua Trưng.

Kết luận:
 

Như vậy thì quả có trận Tượng-quận. Mà có trận Tượng-quận thì biên giới Lĩnh-Nam hồi ấy giáp Ba-Thục, tức Tứ-xuyên ngày nay.

7. Nghiên cứu những khai quật

Vào những năm 1964-1965, giáo sư luật khoa Vũ Văn Mẫu đang sọan thảo tài liệu về cổ luật

Việt-Nam. Người giúp giáo sư Mẫu đọc sách cổ là Hoàng-triều tiến-sĩ Nguyễn Sỹ-Giác. Cụ Giác tuy thông kinh điển, thư tịch cổ, nhưng lại không biết ngoại ngữ, cùng phương pháp phân tích, tổng hợp Tây-phương. Cụ giới thiệu tôi với giáo sư Mẫu. Tôi đã giúp giáo sư Mẫu đọc, soạn các thư tịch liên quan đến cổ luật. Chính vì vậy tập tài liệu « Cổ-luật Việt Nam và tư pháp sử » có chương mở đầu «Liên hệ giữa nguồn gốc dân tộc và Cổ luật Việt-Nam » (10). Bấy giờ tôi còn trẻ, không đủ tài liệu khai quật của Trung-Quốc, của Bắc Việt-Nam, và bấy giờ những lý thuyết về ADN chưa có hệ thống, nên có nhiều chi tiết sai lầm. Hôm nay đây, tôi xin lỗi anh linh Hoàng-triều tiến-sĩ Nguyễn Sỹ-Giác, anh linh giáo sư Vũ Văn-Mẫu. Tôi xin lỗi các vị đồng nghiệp hiện diện, xin lỗi các sinh-viên về những sai lầm đó.

Triều đại Hồng-Bàng thành lập từ năm 2879 năm trước Tây-lịch, tương đương với thời đại đồ đá mài (le néolithique), tức cuối thời đại văn-hóa Bắc-sơn (11). Trong những khai quật về thời đại này tại Bắc-Việt, Đông Vân-Nam, Quảng-Đông, Hồ-Nam, người ta đều tìm được những chiếc rìu thiết diện hình trái soan, trong khi tại Nhật, Bắc Trường-giang chỉ tìm được lọai rìu thiết diện hình chữ nhật, chứng tỏ vào thời đó có một thứ văn hóa tộc Việt giống nhau.

Sang thời đại văn-hóa Đông-sơn (12) hay đồ đồng (âge de bronze). Trong thời gian này đã tìm được trống đồng Đông-sơn trên bờ sông Mã (Thanh hóa). Sự thật trống đồng đã tìm thấy ở toàn bộ các tỉnh Nam Trường-giang như Hồ-nam, Quý-châu,Vân-nam, Quảng-đông, Quảng-tây, Nam-dương, Lào (13), Bắc và Trung-Việt. Nhưng ở Nam-dương, Lào rất ít. Nhiều nhất ở Bắc-Việt, rồi tới Vân-nam, Lưỡng-quảng. Phân tích thành phần gần như giống nhau.

  • Ðồng 53%,

  • Thíếc 15-16%,

  • Chì 17-19%,

  • Sắt 4%.

  • Một ít vàng bạc.

Khảo về y-phục, mồ mả, răng xương trong các ngôi mộ, qua các thời đại cho đến hết thế kỷ thứ nhất sau Tây-lịch, tôi thấy trong các vùng Nam Trường giang cho đến Trung Bắc-Việt, cùng Lào, Thái đều giống nhau. Bây giờ dùng hệ thống ADN kiểm những bộ xương, kiểm máu người sống, 
chúng tôi đã biện biệt được sự khác biệt vào thời Việt, Hoa lập quốc.

Kết luận,
 

« Tộc Việt quả có lĩnh địa Bắc tới hồ Ðộng-đình, Tây tới Tứ-xuyên như cổ sử nói ».

8. Tổng kết,

Sáu vấn đề tôi nêu ra ở trên, rồi đi tìm, tất cả đều còn đầy đủ di tích.
 

Như vậy: Biên giới cổ của nước Việt-Nam, với các triều đại Hồng-bàng, Âu-lạc, Lĩnh-Nam phía Bắc quả tới hồ Ðộng-đình, phía Tây giáp Tứ-xuyên.

V. KẾT LUẬN:

Thưa Quý-vị

Quý-vị đã cùng tôi đi vào những chi tiết từ huyền thoại, huyền sử, cổ sử, cùng triết học, cho tới tin học, y học để tìm về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam, về biên giới cổ của tộc Việt.

Trong chính sử Trung-quốc, Việt-Nam đều ghi rõ ràng nguồn gốc tộc Việt, nhưng cái nguồn gốc đó căn cứ vào cổ thư của người Trung-hoa, nên hoàn toàn sai lạc. Bởi cổ thư cho rằng người Trung-hoa tự sinh ra, rằng người Việt chẳng qua do những người Trung-hoa di chuyển xuống lưu ngụ. Sự thực nhờ hệ thống ADN, chúng ta biết rằng chính những người ở châu Phi đến Đông Nam-á trước, rồi di chuyển lên Hoa-Nam. Tại Hoa-Nam giống người này lại hợp với giống người từ châu Phi sang châu Âu, rồi từ châu Âu vào Trung-á, hợp với người ở Hoa-Nam mà thành tộc Hán.

Nhưng ngược lại, do cổ thư Trung, Việt, hay do ADN, chúng ta cũng biết rất rõ biên cương nước Việt thời mới lập quốc.

Hồi thơ ấu, tôi sống bên cạnh những nhà Nho, chỉ đọc sách chữ Hán của người Hoa, người Việt viết. Mà những sách này đều chép rằng tộc Việt gồm có trăm họ khác nhau, mang tên Bách-Việt. Những tên Âu-Việt, Lạc-Việt, Đông-Việt, Nam-Việt, Việt-Thường đều thuộc Bách-Việt cả. Cái tên trăm họ hay trăm Việt (Bách-Việt) phát xuất từ huyền thọai vua Lạc-Long sinh ra trăm con. Trăm có nghĩa là toàn thể, tất cả, chứ không hoàn toàn là con số như ta tưởng ngày nay (14).

Các vị cổ học, học cổ sử, rồi coi lĩnh địa tộc Việt bao gồm phía Nam sông Trường-giang lấy mốc là hồ Động-đình với sông Tương, núi Ngũ-lĩnh là đương nhiên. Chính hồi nhỏ, khi học tại trường Pháp, vào thời kỳ 13-14 tuổi, tôi chỉ được học vài trang ngắn ngủi về nguồn gốc tộc Việt, trong khi đó gia đình cho tôi đọc mấy bộ sử dài hàng mấy chục nghìn trang của Hoa, của Việt (Nếu dịch sang chữ Việt số trang gấp bốn, sang Pháp, Anh văn số trang gấp năm sáu). Chính tôi cũng nhìn nguồn gốc tộc Việt, lĩnh thổ tộc Việt tương tự như các nhà cổ học. Nay tôi mới chứng minh được.

Phải chờ cho đến khi tôi ra trường (1964). Bấy giờ giáo sư Vũ Văn-Mẫu thạc-sĩ luật khoa nhờ Hoàng triều tiến-sỹ Nguyễn Sỹ-Giác sưu tầm tài liệu cổ luật. Cụ Giác học theo lối cổ, không biết những phương pháp quy nạp, tổng hợp nên giới thiệu giáo sư Mẫu với tôi. Ngay từ lần đầu gặp nhau, mà một già, một trẻ đã có hai cái nhìn khác biệt. Giáo sư Mẫu trên 50 tuổi mà lại có một cái nhìn rất trẻ, tôi mới có 25 tuổi lại có cái nhìn rất già về nguồn gốc tộc Việt. Qua cuộc trao đổi sơ khởi, bấy giờ tôi mới biết có rất nhiều truyền thuyết nói về nguồn gốc dân tộc Việt, mà các tác giả thiếu cái học sâu xa về cổ học Hoa-Việt đưa ra. Vì vậy tôi đã sưu tầm tất cả những gì trong thư tịch cổ, giúp giáo sư Mẫu đem viết thành tài liệu giảng dạy. Nhưng sự sưu tầm đó không đầy đủ, vì chỉ căn cứ trên thư tịch cổ. Nay tôi mới biết có quá nhiều sai lầm, tôi xin lỗi các đồng nghiệp hiện diện, xin lỗi Quý-vị. Hồi bấy giờ tôi sống ở Sài-gòn, thuộc Việt-Nam cộng-hòa đang là nước chống Cộng, nên tôi không thể sang Trung-Quốc, cũng như về Bắc tìm kiếm thêm tài liệu. Phải chờ đến năm 1976 làm việc cho CMFC, hàng năm dẫn các đồng nghiệp sang Trung-Quốc nghiên cứu, trao đổi y học, tôi mới có dịp tìm kiếm lại di tích xưa trong thư viện, trong bảo tàng viện, trên bia đá cùng miếu mạo, đền chùa và nhất là đến tại chỗ nghiên cứụ Gần đây nhờ các đồng nghiệp dùng hệ thống ADN, tôi mới biện biệt được nguồn gốc tộc Việt, biên cương thời lập quốc của tộc Việt.

Hôm nay tôi xin kết luận với các bạn rằng:

  • Người Trung-hoa không phải là con trời như những văn gia cổ của họ viết, dù ngày nay họ còn nghĩ như vậy.

  • Họ cũng không tự sinh ra, rồi tản đi tứ phương.

  • Không hề có việc người Trung-hoa trốn lạnh hay vì lý do chính trị di cư xuống vùng đất hoang, tạo thành nước Việt. Trong lịch sử quả có một số người Trung-hoa di cư sang Việt-Nam sau những biến cố chính trị. Như ngày nay người Việt di cư đi sống khắp thế giới.

  • Lại càng không có việc người Việt gốc từ dòng giống Mã-lai như một vài người ngố ngếch đưa ra.

  • Theo sự nghiên cứu bắng hệ thống ADN, từ cổ, giống người Trung-hoa, do giống người từ Ðông Nam-á di lên. Những người Ðông Nam -á lại đến từ châu Phi qua ngả Nam-á vào thời gian hơn 20.000 năm trước.

  • Người châu Phi đến Bắc Trung-hoa do ngả Âu-châu rồi vào Trung-á, khoảng 15.000 năm. Rồi hai giống người này tạo thành tộc Hoa.

  • Tộc Việt sống rải rác từ phía Nam sông Trường-giang, xuống mãi vịnh Thái-lan.

  • Biên giới nước Việt thủa lập quốc gồm từ Nam sông Trường giang đến vịnh Thái-lan, Ðông tới biển. Tây tới Tứ-xuyên của Trung-quốc ngày nay. 

Ðến đây tôi xin phép các vị giáo sư, quý khách, các sinh viên cho tôi ngừng lời. Xin hẹn lại quý vị đến tháng 11-92 tôi sẽ trình bày trước quý vị về nguồn gốc triết Việt.

Trân trọng kính chào quý vị.

Giáo-sư Trần Ðại-Sỹ,
Giám đốc Trung-quốc sự vụ


Chú giải của Tăng Hồng Minh,

(1) Tiêu biểu mới nhất là một nhóm thức giả do nhà văn Vương Kỳ Sơn đứng chủ biên, đã xuất bản cuốn Việt-Nam đệ ngũ thiên niên kỷ vào năm 1994 tại Hoa-kỳ.
(2) Sau này được tôn thụy hiệu là Lục-Dương.

(3). Như vậy vua Lạc-Long lấy con gái của anh con bác.

(4). Độc giả có thể tìm đọc tài liệu nghiên cứu này bạt quyển 1. Anh-hùng Lĩnh-nam do Nam-Á Paris xuất bản 1987 mang tên « Bản phụ chú nghiên cứu về nỏ thần ».

(5). Phương pháp mà các giáo sư Tarentino, Vareilla Pascale dùng để biện biệt
những bộ xương khai quật trong cổ mộ vùng Hồ-nam, Vân-nam, Quảng-châu, Quý-châu
không khác các chuyên viên Hoa-kỳ trong ủy ban tìm kiếm tử sĩ Hoa-kỳ tại Việt-nam
đã xử dụng. Có điều, các chuyên viên Hoa-kỳ gặp nhiều khó khăn hơn, vì phải đi vào
chi tiết từng cá nhân, còn IFA chỉ phân chủng loại.

(6). Xin xem Cẩm-khê-di-hận do Nam-Á Paris xuất bản 1992, để biết hai trận hồ Ðộng-đình. Một trận do Chu Tái-Kênh, Ðinh Xuân-Hoa, Phật-Nguyệt, Ðinh Bạch- Nương, Ðinh Tĩnh-Nương, Quách-Lãng đánh với Lưu-Long, Mã-Viện. Một trận do Hoàng Thiều-Hoa cùng với các tướng trên
đánh với mười hai đại tướng quân Hán.

(7). Tư-mã Thiên, Sử-ký, quyển 1, Ngũ-đế bản-kỷ, Trung-hoa thư cục xuất bản 1959 trang 3-6.

(8). Ðộc giả muốn biết chi tiết trận đánh lịch sử này, xin đọc Ðộng-đình hồ ngoại-sử, cùng tác giả, do Nam-Á Paris xuất bản (1990).

(9). Xin đọc « Mùa xuân trên hồ Động-đình tưởng nhớ Trưng-Vương » trong phần bạt Anh-hùng Lĩnh-nam, do Nam-Á xuất bản 1987.

(10) Vũ Văn-Mẫu, Cổ luật Việt-nam và tư-pháp sử, quyển thứ nhất, tập thứ nhất, trang 9-51.

(11). Chữ văn hóa Bắc-sơn ở đây chỉ có ý nghĩa rằng cuộc khai quật ở núi Bắc-sơn
(Lạng-sơn), đã tìm thấy những cổ vật đồ đá. (Thời kỳ đồ đá)

(12). Chữ văn hóa Ðông-sơn chỉ cuộc khai quật ở Ðông-sơn, đã tìm thấy đồ đồng (thời
đồ đồng).

(13). Hè 1992 sau khi cùng phái đoàn IFA du khảo về loại cây trị cholestérol ở Vân-nam,
thời gian còn lại, Giáo-sư Trần Ðại-Sỹ đi khảo cứu xương người cùng các khai quật
ở Vân-nam, Quảng Ðông (Trung-quốc), các tỉnh Bắc-thái như Nùng-khai, Thanon, U-bon,
U-don Tha-ni. Giáo-sư Trần Ðại-Sỹ đã tìm lại được hai trống đồng thời vua Trưng,
ở Quảng-đông, để trong bảo tàng viện địa phương. Ông đã mất rất nhiều tiền, cùng
trăm ngàn khó khăn mới mua và đưa lọt về Paris .

(14). Chữ trăm trong ngôn ngữ Việt có nhiều nghĩa.

· Có nghĩa là đời người như:

Trăm năm trong cõi người ta.
Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau

(Kiều)

Trăm năm xe sợi chỉ hồng,
Bắt người tài sắc buộc trong khung trời
Trăm năm, trăm tuổi, trăm chồng,
Hễ ai có bạc tôi bồng trên tay.
(ca dao)

· Có nghĩa là chết: 

Khi nào cụ tôi trăm năm đi rồi.

Nhân sinh bách tuế vi kỳ
(Người ta sinh ra lấy trăm năm làm hẹn)

Trăm năm như cõi trời chung,
Có nghề cũng phải có công mới thành.

(ca dao)

· Có nghĩa là tất cả: 

Trăm họ, hay trăm bệnh,
Trăm hoa đua nở mùa xuân,
Cớ sao cúc lại muộn buồn thế kia ?

(ca dao)

Trăm dâu đổ đầu tằm.
(Tục ngữ)

Trăm con trong huyền sử Việt hay Bách-Việt có nghĩa này.


Tài liệu nghiên cứu chính:

SÁCH CHỮ HÁN

· Tư Mã-Thiên, Sử ký, Trung-hoa thư cục Thượng-hải xuất bản 1959

· Ban-Cố, Tiền Hán thư, Trung-hoa thư cục xuất bản 1959

· Phạm Việp, Hậu Hán thư, Trung hoa thư cục xuất bản 1959.

· Hoài Nam Tử, quyển 18, Trùng
>Hoa thư cục Ðài Bắc xuất bản, 1959.

· Cố Dã-Vương, Ðịa-dư chí, Cẩm-chương thư cục xuất bản 1920.
>Trần Luân-Quýnh, Hải quốc kiến văn lục, cổ bản, thư viện Paris .

· Lê Quý-Ðôn, Phu-biên tạp lục, cổ bản của thư viện Paris .

· Lê Quý-Ðôn, Ðại-Việt thông sử, cổ bản của thư viện Paris .
Phan huy-Ích, Lịch triều biến chương loại chí, cổ bản của thư viện Paris .

· Quốc-sử quán, Hoàng-Việt địa dư chí, bản của thư viện Paris .

· Quốc-sử quán, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, bản của thư viện Paris .

· Ðịa đồ xuất bản xã, Trung-hoa nhân
>dân cộng hòa quốc phân tỉnh địa đồ tập, Bắc-kinh 1974.

· Ðại học văn khoa Hồ-nam, Hồ-nam lịch đại
khảo chứng 1980.

· Cùng rất nhiều tài liệu không tác giả, lưu trữ tại thư viện, bảo tàng viện Hồ-nam, Quý-châu, Quảng-đông, Quảng-tây, Vân-Nam.

SÁCH CHỮ PHÁP

· Léonard Aurouseau. La première conquête chinoise des pays anamites, BEFEO XXIII

· Claude Madrolle, Le Tonkin Ancien, BEFEO, XXXVII.

SÁCH CHỮ VIỆT

· Ðào Duy-Anh, Nguồn gốc dân tộc Việt-nam, Hà-nội 1946.

%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%

  

%%%%%%%%%%%%%%%%%%%


8/ CHURCHILL & FLEMING

"Thằng Rái Cá - Otter boy"

Ở một vùng quê bên nước Anh, có gia đình nọ chuyên nghề làm vườn, gồm hai vợ chồng và đứa con trai duy nhất, vi hoàn cảnh quá nghèo, nên cậu con chưa học hết Tiểu học đã phải ở nhà giúp đỡ cha mẹ việc trồng tiả, hoặc đôi khi lên rừng lấy củi, kể cả việc câu cá ở một cái hồ lớn rất đẹp gần nhà, để thêm lương thực cho bữa ăn. Trong các việc làm phụ giúp cha mẹ, cậu bé thích nhất là đi câu, bởi vì mỗi buổi đi câu là mỗi lần được tắm, bơi thỏa thích. Cậu bơi tuyệt giỏi, đến mức bạn bè trong xóm gọi cậu là "thằng Rái Cá" (Otter boy).

      Một hôm, khi "thằng Rái Cá" cắm xong mớ cần câu ở góc hồ, đang tính cởi áo nhào xuống nước bơi một tăng cho đã đời, thì nó thấy 3 chiếc xe limousine sang trọng trờ tới đậu ngay gần đó, nên nó khớp không tắm nữa, leo lên cây đại lăng ở cạnh hồ, núp mình trong tàng lá để canh chừng cần câu và cũng để ngắm nhìn toán du khách sang trọng.

      Toán du khách đó, chính là một gia đình giầu có, quyền qúy, vào hàng đệ nhất Qúy Tộc của Vương  Quốc Anh, họ từ Thủ Đô Luân Đôn đi du ngoạn miền quê, thăm dân cho biết sự tình. Dưới trời nắng đẹp ấm áp, một cái tăng lớn được căng lên lộng lẫy, bàn ghế picnic bầy ra và thức ăn, cao lương mỹ vị dọn tràn đầy. Tiếng nhạc êm đềm réo rắt tỏa vang rồi đoàn du khách nhập tiệc. Kẻ ăn, người uống, kẻ khiêu vũ, người chụp hình ...

      Một lát sau, "thằng Rái cá" ngồi thu mình trên cành cây đại lăng, nhìn thấy một đứa trẻ trong đám du khách, chắc cũng 11, 12 tuổi, cỡ tuổi nó, thay đồ tắm và lội xuống hồ bơi qua bơi lại. Dường như những người lớn chăm chú vào việc ăn uống chuyện trò, không mấy ai để ý đến đứa trẻ ở dưới hồ. Riêng "thằng Rái Cá" nó tò mò quan sát đứa trẻ...

      Ồ, coi kìa thằng này bơi gì dở ẹc! rõ ràng là nó không biết bơi ếch, bơi sải, bơi bướm gì cả, đến bơi ngửa chắc cu cậu cũng chẳng làm được. Nó chỉ đập loạn tay chân lên thôi, cái điệu bơi chó như thế là không khá được!

      Chợt "thằng Rái Cá"  nhoài mình ra chăm chú nhìn, nó thấy 2 con bạch thiên nga từ xa bơi tới phía đứa trẻ, và đứa trẻ chắc là thích con bạch thiên nga nên bơi theo, ... chết chưa ! nó bơi tuốt ra xa quá rồi, chỗ đó rất sâu, nguy hiểm lắm! Đúng lúc đó, có tiếng thét cấp cứu của đứa trẻ "Help me!  Help...Help! !!" Toán du khách khi ấy kịp nghe và nhìn thấy, nhưng thay vì phải nhào ra cứu đứa trẻ, thì họ ồn ào, nhốn nháo cả lên, hai ba người xuống hồ với cả áo quần, nhưng chỉ lội ra nước đến cổ thì đứng lại.

    Trời đất! hóa ra chẳng ai biết bơi cả! mà ngoài xa đứa trẻ đuối sức có vẻ muốn chìm rồi!

        Không đợi lâu hơn được nữa, từ trên cành cây cao, "thằng Rái cá" phóng xuống chạy bay ra hồ trước con mắt ngạc nhiên của tất cả đoàn du khách. Tới bờ cao, nó nhún mình lao xuống nước trong tư thế plunge tuyệt đẹp, và chỉ loáng mắt đã sải tay bơi tới chỗ đứa trẻ bị nạn, nó hụp lặn xuống xốc nách đứa trẻ và như một chuyên viên rescue lành nghề, nó nghiêng người bơi xoải từ từ vào bờ, trước sự chứng kiến xúc động và tràng pháo tay reo mừng của mọi người. Khi tới bờ, đứa trẻ bị nạn được nhiều người xúm lại khiêng lên đưa vào giữa tăng, và tại đó có sẵn một vị Bác Sĩ (trong toán du khách) lo việc cấp cứu hồi sinh cho đứa trẻ.
 Chừng một tiếng đồng hồ sau, không khí an toàn tươi vui trở lại với mọi người trong toán du khách, đứa trẻ qua tai nạn hiểm nguy, bây giờ quấn mình trong chiếc mền len và đang được uống mấy muỗng soup. Lúc ấy người ta mới chợt nhớ tới vị Ân Nhân vừa cứu sống nó. 

-  Ô hay, cái thằng bé con bơi giỏi hồi nãy đâu rồi nhỉ? mọi người đổ xô đi tìm, lát sau phát giác ra chỗ ẩn của nó, "thằng Rái Cá" trèo lên ngồi yên chỗ cũ, trên cành cây đại lăng. Nó được gọi xuống và trịnh trọng đưa tới trình diện trước một vị Quí Tộc, Ông này chính là cha của đứa trẻ vừa bị nạn.

-  Hỡi con, (Vị Qúi Tộc nói với "thằng Rái Cá") con vừa làm một chuyện vĩ đại mà tất cả chúng ta đây không ai làm được, ta xin thay mặt toàn thể cám ơn con.

-  Bẩm Ông, ("thằng Rái Cá" lễ phép thưa) con có làm gì vĩ đại đâu! bơi lội là nghề của con mà... con cứu em là chuyện nhỏ, chuyện phải làm và cũng là chuyện thường đâu có gì khó khăn vĩ đại. Xin Ông đừng bận tâm!

-  Không đâu con ơi! con đã cứu mạng con trai ta, gia đình ta và Hội Đồng Quí Tộc mãi mãi mang ơn con, nay ta muốn đền ơn con, vậy con muốn điều gì hãy nói cho ta biết.

    "Thằng Rái Cá" nghe hỏi vậy, ngập ngừng giây lát, rồi ngỏ ý muốn xin vài ổ mì dư thừa đem về cho cha mẹ. Lòng hiếu thảo của nó đã khiến cho Vị Quí Tộc và nhiều du khách cảm động rơi lệ. Vị Qúi Tộc ôm nó vào lòng và nói:
-  Hỡi con, điều con vừa xin là chuyện nhỏ, và đó chính là bổn phận của ta, ta biết ta sẽ phải làm gì cho con và gia đình con. Nhưng câu hỏi của ta là sau này lớn lên con ước mơ sẽ làm gì ?


"Thằng Rái Cá" chỉ tay vào vị Bác Sĩ khi nãy cấp cứu hồi sinh cho đứa trẻ bị nạn, trả lời:

-  Lớn lên, con muốn làm việc cứu người như ông kia.

  -  Ồ, con muốn làm Bác Sĩ, tốt lắm! với ta đó cũng là chuyện nhỏ thôi, ta sẽ giúp con.


Câu chuyện nhỏ trên đây, có phần kết luận không nhỏ mà thật là vĩ đại, bởi vì đứa trẻ bị chết đuối hụt, có tên là Winston Churchill, sau này là Vị Thủ Tướng đã làm rạng danh Nước Anh, một Vĩ Nhân cực kỳ tài giỏi lỗi lạc của Thế giới vào thời Đệ Nhị Thế Chiến.

  - Còn "thằng Rái Cá", cậu bé đã cứu mạng Churchill tên là Fleming, sau này trở thành Vị Bác Sĩ tài ba lừng danh hoàn cầu, Fleming chính là nhà bác bọc đã tìm ra thuốc trụ sinh Penicilin, cứu mạng biết bao nhiêu người trên thế giới, Ông đích thực là vị Ân Nhân Vĩ đại của cả nhân loại.

      Từ khởi đầu, chuyện chỉ là một chuyện nhỏ, sự hy sinh, vị tha, sự cho đi rất nhỏ nhoi! nhưng nhờ đó, thành quả sau này đem đến cho cả nhân loại đã vô cùng lớn lao kỳ vỹ.

      Câu chuyện còn thêm cho phần kết luận điều lý thú nữa, là một ngày nọ Thủ Tướng Churchill bị lâm trọng bịnh, đến nỗi đã hôn mê, nhiều Bác Sĩ phải lắc đầu, tính mạng Ông ở vào lúc nguy kịch nhất, thì Fleming xuất hiện như một tiền duyên định mệnh, và vị Bác Sĩ tài ba này, đã lại một lần nữa cứu sống người bạn cố tri của mình. Khi tỉnh dậy sau cơn mê, mở mắt ra nhìn thấy Fleming, Churchill ngạc nhiên xúc động và nói rằng:

-  Fleming!  có phải cứ mỗi lần tôi sắp chìm, Chúa lại cho Bạn tới vớt tôi lên?

-  Churchill, chúng ta hãy cám ơn Chúa! nhưng không hẳn là tôi (Fleming giơ ra một viên thuốc nhỏ tí xíu) bởi cái này đây, chính cái này đã cứu bạn đó ... chuyện nhỏ!

&&&&&&&&&&&&&

  


9/ EINSTEIN- Quote of the day

It's not that I'm so smart, it's just that I stay with problems longer.

Famous men quotes

If you don't know where you are going, any road will get you there.

Lewis Carroll quotes (English Logician, Mathematician, Photographer and Novelist, especially remembered for Alice's Adventures in Wonderland. 1832-1898)

The best way to waste your life, ... is by taking notes. The easiest way to avoid living is to just watch. Look for the details. Report. Don't participate.

Chuck Palahniuk quotes (American freelance Journalist, Satirist and Novelist. b.1961)

The unreal is more powerful than the real, because nothing is as perfect as you can imagine it. because its only intangible ideas, concepts, beliefs, fantasies that last. stone crumbles. wood rots. people, well, they die. but things as fragile as a thought, a dream, a legend, they can go on and on.

Chuck Palahniuk quotes (American freelance Journalist, Satirist and Novelist. b.1961)

Courage is the discovery that you may not win, and trying when you know you can lose.

Tom Krause quotes ( motivational speaker, Teacher and Coach, b.1934)

  If death meant just leaving the stage long enough to change costume and come back as a new character...Would you slow down? Or speed up?

Chuck Palahniuk quotes (American freelance Journalist, Satirist and Novelist. b.1961)


 “Whenever you're in conflict with someone, there is one factor that can make the difference between damaging your relationship and deepening it. That factor is attitude.

Ordinary riches can be stolen, real riches cannot. In your soul are infinitely precious things that cannot be taken from you.

 Oscar Wilde quotes (Irish Poet, Novelist, Dramatist and Critic, 1854-1900)

If you only do what you know you can do- you never do very much.

 Tom Krause quotes ( motivational speaker, Teacher and Coach, b.1934)

Albert Einstein quotes

German born American Physicist who developed the special and general theories of relativity. Nobel Prize for Physics in 1921. 1879-1955

 “Intellectual growth should commence at birth and cease only at death”

* Whoever undertakes to set himself up as a judge of Truth and Knowledge is shipwrecked by the laughter of the gods.”

“Science without religion is lame, religion without science is blind.”

“There are two ways to live: you can live as if nothing is a miracle; you can live as if everything is a miracle.”

“We can't solve problems by using the same kind of thinking we used when we created them.”

“Logic will get you from A to B. Imagination will take you everywhere.”

“Only a life lived for others is a life worth while.”

“If you can't explain it simply, you don't understand it well enough”

“The only real valuable thing is intuition.”

“I don't know, I don't care, and it doesn't make any difference!”

“Peace cannot be kept by force; it can only be achieved by understanding.”

“The important thing is not to stop questioning. Curiosity has its own reason for existing.”

“It has become appallingly obvious that our technology has exceeded our humanity.”

 “If we knew what it was we were doing, it would not be called research, would it?”

 “Sometimes one pays most for the things one gets for nothing.”

“Everything that can be counted does not necessarily count; everything that counts cannot necessarily be counted.”

“Few are those who see with their own eyes and feel with their own hearts.”

Everything should be as simple as it is, but not simpler.”


“The world is not dangerous because of those who do harm but because of those who look at it without doing anything”

“Learn from yesterday, live for today, hope for tomorrow. The important thing is not to stop questioning.”

Once we accept our limits, we go beyond them.”

“The only reason for time is so that everything doesn't happen at once.”

No problem can be solved from the same level of consciousness that created it.”

I have no particular talent. I am merely inquisitive.”

%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%

10/ ÔNG NGOẠI


%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%


Cơ duyên cho mình sau 1975 được về dạy tại

11/ Trường Trung Học VÕ TRƯỜNG TOẢN,

số 11 Nguyễn Bỉnh Khiêm Quận I 
(trước Sở Thú Saigon)

đó chính là lý do để có phần trang web này 

Võ Trường Toản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Võ Trường Toản (? - 27 tháng 7 năm 1792) hiệu là Sùng Đức, quê làng Thanh Kệ, dinh Quảng Đức (nay thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế), sau vào cư ngụ tại huyệnBình Dương, phủ Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông nổi tiếng là một người thầy đạo cao, đức trọng, uyên bác hơn người tại miền Nam Việt Nam.


Thân thế và sự nghiệp

Tổ tiên Võ Trường Toản vốn là người Hoa lánh nạn Mãn Thanh sang cư trú tại Đàng Trong. Sau cuộc hôn nhân của công nữ Ngọc Vạn, con gái thứ hai của Chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên với vua Chân Lạp Chei Chetta (1668-1628), tổ tiên Võ Trường Toản cũng từ miền Trung vào miền Nam lập nghiệp.[1]

Trong thời chiến tranh Tây Sơn - chúa Nguyễn, ông mở trường dạy học ở Hòa Hưng (thuộc huyện Bình Dương; nay thuộc quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh), không tham gia vào chính sự. Học trò của ông khá đông và nhiều người nổi tiếng như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, Ngô Tùng Châu, Phạm Ðăng Hưng, Lê Bá Phẩm, Phạm Ngọc Uẩn v.v... Võ Trường Toản được các sĩ phu miền Nam lúc bấy giờ tôn là "Thái sơn Bắc đẩu", là "Gia Định xử sĩ".

Chúa Nguyễn Phúc Ánh rất mến mộ ông, nên mỗi khi ghé Gia Định thường triệu ông đến giảng sách, đàm đạo. Vị chúa này muốn trọng dụng ông, nhưng ông khéo từ chối, chỉ tiến chúa Nguyễn 10 điều về phương lực cứu quốc và kiến quốc.

Tượng Võ Trường Toản tại đền thờ

Võ Trường Toản mất ngày mồng 9 tháng 6 năm Nhâm Tý (tức 27 tháng 7 năm 1792).

Hay tin ông mất, chúa Nguyễn ban tặng danh hiệu "Gia Ðịnh xử sĩ Sùng Đức Võ tiên sinh" (nghĩa là bậc xử sĩ Võ tiên sinh, người Gia Định, sùng về đạo đức) để khắc vào bia mộ, và đôi liễn điếu:

Triều hữu huân danh, bán thuộc hà phần cực học;

Đẩu nam phong giáo, tề khâm nhạc lộc dư hay .

Đại ý tỏ lòng mến thương công đức của Võ tiên sinh đã đem sự giáo hóa của ông Vương và ông Chu, làm rạng rỡ trong triều ngoài quận.

Để tưởng nhớ công đức của ông, học trò cũ cũng đã làm câu liễn điếu:

Sinh tiền giáo huấn đắc nhân, vô tử nhi hữu tử

Một hậu thịnh danh tại thế, tuy vong giả bất vong"

Dịch nghĩa:

Lúc sống, dạy dỗ được người, không con mà như có
Khi mất, tiếng tăm còn để, thân tan danh vẫn còn.

Tác phẩm của Võ Trường Toản hầu như bị thất lạc hết, chỉ còn lưu truyền bài "Hoài cổ phú", viết bằng quốc âm, dài 24 câu.

Tượng Võ Trường Toản tại Văn Miếu Trấn Biên - Đồng Nai

Khu mộ và đền thờ

Hài cốt ông lúc đầu được chôn tại làng Hòa Hưng, nơi ông dạy học. Năm 1855, Phan Thanh Giản tâu xin lập miếu thờ ông tại làng này.

Sau khi quân Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ năm 1862, Phan Thanh Giản cùng với đốc học Vĩnh Long Nguyễn Thông, hiệp trấn An Giang Phạm Hữu Chánh, cùng với nhiều sĩ phu khác đứng ra lo việc cải táng Võ Trường Toản về làng Bảo Thạnh (Ba Tri, Bến Tre), với ý nghĩa là không để mộ thầy nằm trong vùng Pháp tiến chiếm. Ngày cải táng (28 tháng 3 năm1867), Nguyễn Thông đã thay mặt các nho sĩ đứng làm chủ lễ, các quan chức ở An Giang,Hà Tiên đều mặc đồ tang đến lễ bái.

Ngày 28 tháng 3 năm 1867 Phan Thanh Giản thảo một bài văn bia, ca ngợi công đức và sĩ khí của thầy Võ Trường Toản. Ông Phan đã thuê thợ khắc bài văn vào đá, nhưng việc chưa xong thì ông đã tuẫn tiết vào ngày 4 tháng 8 năm 1867. Năm năm sau (1872), ông Trương Ngọc Lang mướn thợ tiếp tục làm mới xong.

Tiên sinh họ Võ, húy Trường Toản; đời trước hoặc nói là người Thanh Kệ, hoặc nói người Bình Dương, trước thọ nghiệp cùng ai chưa biết rõ. Chỉ biết sở học của tiên sinh đã tới bậc dày dặn, đầy đủ, chất thật có thuật nghiệm thâm uyên thông đạt. Tiên sinh ở ẩn mở trường dạy học, thường học trò đến mấy trăm...Tiên sinh không khứng ra làm quan, nên không thấy được sự nghiệp của tiên sinh. Từ thuở tiên sinh lấy lối học nghĩa lý để giáo hóa, chẳng những đương thời đào tạo được nhiều bậc nhân tài, mà còn truyền thuật, giảng luận, trau dồi về sau...”

Mộ Võ Trường Toản (trái), vợ (giữa) và con gái(phải)

Khu mộ của Võ Trường Toản, vợ và con gái (vợ chồng ông chỉ sinh được 1 gái, bị bệnh mất từ nhỏ) được xây dựng theo dạng voi phục, nằm trong khuôn viên thoáng rộng. Ở ngoài khu mộ, phía bên phải là một nhà thờ nhỏ, đẹp với mái cong, hai tầng, và bên trong có đặt tượng của ông.

Khu mộ Võ Trường Toản còn được người ở Bảo Thạnh gọi là khu mộ ông Hậu Tổ, vì ông là người có công truyền dạy luân lý Khổng Mạnh ở đất Đồng Nai - Gia Định. Di tích khu mộ và đền thờ đã được Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết định công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 31 tháng 08 năm 1998. 


%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%

12/ Đô đốc Bùi Thị Xuân

Bùi Thị Xuân

Đến năm 1977, tất cả thầy trò Trường Võ Trường Toản đều được chuyển qua Trường Trung học BÙI THỊ XUÂN, Nghĩa cũng được chuyển sang theo, và dạy 2 năm 1977-1978. Đây nguyên là trường Tư thục Nguyễn Bá Tòng (tên của vị Giám mục Việt Nam đầu tiên).

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tượng Đô đốc Bùi Thị Xuân trong Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt (Bảo tàng Quang Trung, Bình Định)

Bùi Thị Xuân (?[1] - 1802) là một trong Tây Sơn ngũ phụng thư[2], là vợ Thái phó Trần Quang Diệu và là một Đô đốc của vương triều Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam.


Cuộc đời

Bùi Thị Xuân, người ở thôn Xuân Hòa, phía Nam sông Côn, thuộc tổng Phú Phong, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn (nay thuộc thôn Phú Xuân, xã Bình Phú, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định).

Bà là con gái của Bùi Đắc Chí, gọi Bùi Đắc Tuyên bằng chú, gọi Bùi Thị Nhạn[3]bằng cô.
Sinh trưởng trong một gia đình khá giả, Bùi Thị Xuân sớm được học văn và học võ. Tương truyền, bà là người có nhan sắc, khéo tay và viết chữ đẹp. Đến khi theo học võ với Đô thống Ngô Mạnh, bà cũng nhanh chóng thành thạo, nhất là môn song kiếm. Nhờ vậy sau này, bà đã dùng kiếm để giải nguy cho Trần Quang Diệu khi vị tráng sĩ này bị một con hổ dữ tấn công. Và cũng từ lần gặp này này mà hai người trở thành vợ chồng khi ông Diệu đến ở nhà bà để trị thương, rồi cùng nhau về tòng quân dưới ngọn cờ Tây Sơn ở chiến khu Phú Lạc.

Theo Tây Sơn

Với tài nghệ (ngoài tài kiếm thuật, bà còn giỏi bắn cung, cưỡi ngựa và luyện voi) cộng với lòng dũng cảm, Bùi Thị Xuân cùng chồng nhanh chóng trở thành những tướng lĩnh trụ cột, góp công lớn trong công cuộc đánh đuổi khoảng 20 vạn quân Xiêm trên đoạn sông Rạch Gầm- Xoài Mút (Tiền Giang) năm 1785, trận đại phá quân Mãn Thanh vào đầu xuân Kỷ Dậu 1789.

Trong những năm tiếp theo, bà cùng chồng cầm quân đi đánh dẹp các phe chống đối vương triều mới (nhà Tây Sơn), trong số đó có lực lượng của hoàng thân nhà Lê là Lê Duy Chỉ cấu kết với Tù trưởng Bảo Lạc (Hà Tuyên)...

Giữa lúc nhà Tây Sơn đang từng bước ổn định tình hình trong nước, thì đột ngột vào ngày 29 tháng 7 năm 1792, vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) băng hà. Kể từ đấy vương triều này bắt đầu suy yếu do vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản) còn nhỏ, lại bị người cậu ruột là Thái sư Bùi Đắc Tuyên chuyên quyền.

Thời gian này, Bùi Thị Xuân được cử vào trấn thủ Quảng Nam, còn chồng bà (Trần Quang Diệu) thì được cử vào Diên Khánh chống ngăn quân Nguyễn. Đến khi nghe tin cha con Bùi Đắc Tuyên bị tướng Võ Văn Dũng bắt giết, Trần Quang Diệu cả sợ, phải kéo quân về kinh đô đóng ở bờ Nam sông An Cựu, thì bà cũng nhận được lệnh hồi triều.

Nghe mật thám báo tin nội bộ nhà Tây Sơn đang lục đục, Nguyễn Phúc Ánh liền tổ chức ngay những cuộc tấn công. Nhưng quân Nguyễn vừa tiến vào thành Quảng Nam, thì bị đánh một trận tơi bời. Tức tối vì thua mưu trí đàn bà, chúa Nguyễn thề sẽ sớm rửa mối nhục.[4]Thấy rút Nguyễn rút lui hết, đến lúc ấy, Bùi Thị Xuân mới kéo quân về Phú Xuân để cùng chồng dàn xếp việc triều chính...

Mùa xuân năm 1802, vua Cảnh Thịnh sai em là Nguyễn Quang Thùy vào trấn giữ Nghệ An, còn tự mình cầm quân đi đánh chiếm lại Phú Xuân. Trong chiến dịch này, Bùi Thị Xuân được lệnh đem 5.000 quân đi hộ giá.

Thấy thế trận ngày càng bất lợi, Bùi Thị Xuân cưỡi voi liều chết đánh riết vào lũy Trấn Ninh, nơi Nguyễn Phúc Ánh đang cố thủ, từ sáng đến chiều, máu và mồ hôi ướt đẫm áo giáp. Rồi bà còn giành lấy dùi tự tay thúc trống liên hồi. Lúc bấy giờ chúa Nguyễn cùng tướng tá đã hốt hoảng vội chia quân vượt sông Linh Giang đánh bọc hậu hòng mở đường máu thoát thân. Nào ngờ vua Cảnh Thịnh thấy quân Nguyễn tràn qua nhiều, tưởng nguy khốn liền cho lui binh. Bùi Thị xuân bèn nắm áo ngự bào của nhà vua để khuyên cố đánh. Nhưng khi nghe tin tướngNguyễn Văn Trương phá tan thủy binh Tây Sơn ở cửa biển Nhật Lệ (Quảng Bình), cướp được hầu hết tàu thuyền và tướng giữ cửa Nguyễn Văn Kiên cũng đã đầu hàng; thì đội quân của bà hốt hoảng bỏ cả vũ khí, đạn dược để tháo chạy...

Đây có thể nói là trận chiến đấu oanh liệt cuối cùng của bà để hòng cứu vãn tình thế. Nhưng ngờ đâu nhà Tây sơn, sau trận này thêm trượt dài trên đà suy vong, không sao gượng lại được nữa...[5]

Bị voi giày

Được tin đại quân Tây Sơn thua to ở Trấn Ninh, Tư đồ Vũ Văn Dũng và chồng Bùi Thị Xuân là Thái phó Trần Quang Diệu, dù biết không thể giữ được Quy Nhơn, nhưng vẫn gắng gượng đến tháng 3 cùng năm trên mới rời bỏ thành, đem binh tượng đi đường thượng đạo qua Ai Lao ra Nghệ An, ý là để hội quân với vua Cảnh Thịnh cùng lo chống giữ.

Sử gia C. B. Mabon kể:

Trần Quang Diệu cùng vợ và con gái, dẫn theo một số tàn quân chạy ra Bắc bằng đường thượng đạo Ai Lao. Đến châu Quy Hợp, Diệu xuống Hương Sơn thì biết tin Nghệ An đã mất. Quân sĩ của Diệu bỏ cả rồi, mấy hôm sau vợ chồng Quang Diệu đều bị bắt cả...Vua Cảnh Thịnh cùng hai em và vài tướng tá vượt qua sông Nhị Hà, tính trốn lên vùng Thượng du cũng bị dân chúng bắt và đóng cũi nộp cho quân Nguyễn...[6]

Trước khi trích dẫn tài liệu của một giáo sĩ phương Tây tên là De La Bissachère (người có dịp chứng kiến buổi hành hình) được viết năm 1807, mô tả lại cái chết của mẹ con bà Bùi Thị Xuân, sử gia Phạm Văn Sơn đã có lời giới thiệu như sau:

Mẹ con bà Bùi Thị Xuân, người ta (ý nói đến vua Gia Long) cũng rất căm thù, nên cũng dùng hình phạt dã man nhất. Nguyên nhân là bà đã điều khiển binh sĩ đánh vào lũy Trấn Ninh hết sức kịch liệt, đã làm cho chúa Nguyễn và các tướng sĩ có phút phải thất thần, tưởng chừng nguy khốn đến nơi.

Trích tài liệu của giáo sĩ De La Bissachère :
Đứa con gái trẻ của bà (Bùi Thị Xuân) bị lột hết y phục. Một thớt voi từ từ tiến đến. Cô gái biến sắc rồi mặt trắng bệch như tờ giấy. Nàng ngoảnh nhìn mẹ, kêu thất thanh. Bà Xuân nghiêm mặt trách : Con phải chết anh dũng để xứng đáng là con của ta!...Đến lượt bà, nhờ lớp vải ở bên trong quấn kín thân thể, nên tránh khỏi sự lõa lồ. Và bà rất bình thản bước lại trước đầu voi hét một tiếng thật lớn khiến voi giật mình lùi lại. Bọn lính phải vội vàng bắn hỏa pháo,đâm cây nhọn sau đít con vật để nó trở nên hung tợn, chạy bổ tới, giơ vòi quấn lấy bà tung lên trời...Nhưng trái với lệ thường, nó không chà đạp phạm nhân như mọi bận mà bỏ chạy vòng quanh pháp trường, rống lên những tiếng đầy sợ hãi khiến hàng vạn người xem hoảng hốt theo...[7]

Được ca ngợi

Công luận bình phẩm, hầu hết đều khen ngợi oai danh và tiết tháo của Bùi Thị Xuân. Theo sử liệu, sở dĩ được vậy là vì trong cuộc đời bà có mấy sự việc đáng chú ý sau:

Có tấm lòng thương dân

Gặp năm mất mùa, nhiều phủ huyện ở trấn Quảng Nam sinh loạn, quan quân địa phương không kiềm chế nổi. Triều thần lập tức tiến cử Bùi Thị Xuân ra nơi đó làm Trấn thủ. Đến nơi, bà tự mình đi thị sát khắp các hạt, rồi cho mở kho phát chẩn. Thấy viên quan nào chiếm công vi tư, ăn của hội lộ...bà đều thẳng tay cách chức, chọn người tài đức lên thay. Ngoài ra, bà còn ra lệnh bãi bỏ các cuộc truy lùng những nhóm người nổi dậy, và mạnh dạn ra tuyên cáo rằng: Ai vác cày bừa, nông cụ thì được coi là dân lành...Vì thế nạn trộm cướp và chống đối ở Quảng Nam (nhất là ở huyện Quế Sơn) nhanh chóng chấm dứt, dân chúng lại được yên ổn làm ăn...[8]

Không vì tình riêng

Thái sư Bùi Đắc Tuyên, người làng Xuân Hòa, huyện Tuy Viễn, là cậu của vua Cảnh Thịnh, và là chú của Đô đốc Bùi Thị Xuân. Năm 1795, vì ông bị Võ Văn Dũng giết chết vì tội chuyên quyền. Bấy giờ, có nhiều người nghi ngại Bùi Thị Xuân, vì bà là cháu ruột của Đắc Tuyên. Nhưng khác với những gì xầm xì, bà đã không hề thù oán người giết chú ruột mình, cũng như lợi dụng sự rối ren đó mà đi theo đối phương hay tìm nơi cát cứ...[9]

Nỗ lực đến giây phút cuối cùng

Đề cập đến tinh thần quyết chiến thắng của Bùi Thị Xuân trong trận Trấn Ninh (1802), trong bài thơ dài Bùi phu nhân ca của danh sĩ Nguyễn Trọng Trì (1854-1922) có đoạn:

Xuân hàn lãnh khí như tiễn đao
Xuân phong xuy huyết nhiễm chinh bào
Hoàng hôn thành dốc bi già động
Hữu nhân diện tỷ phù dung kiều
Phu cổ trợ chiến Lương Hồng Ngọc

 Mộc Lan tòng quân Hoàng Hà Khúc
Thùy ngôn cân quắc bất như nhân ?
Dĩ cổ phương kim tam đinh túc.

Nghĩa là:

Khí xuân lạnh như khí lạnh nơi lưỡi dao bén thoát ra.
Gió xuân thổi máu bay đẫm tấm chinh bào
Nơi góc thành tiếng tù và lay động bóng hoàng hôn
Có người dung nhan kiều diễm như đóa hoa phù dung
Thật chẳng khác Lương Hồng Ngọc đánh trống trợ chiến cho ba quân.
Và nàng Mộc Lan xông trận nơi sông Hoàng Hà
Ai bảo khăn yếm không bằng người ?
Từ xưa đến nay vững vàng thế ba chân vạc.[10]

Bại trận vẫn hiên ngang

Ngoài thái độ hiên ngang khi bị hành hình, người ta còn truyền rằng khi nghe Bùi Thị Xuân bị bắt, chúa Nguyễn bèn sai người áp giải đến trước mặt rồi hỏi với giọng đắc chí:

                      Ta và Nguyễn Huệ ai hơn?

               Bà trả lời:
                  Chúa công ta, tay kiếm tay cờ mà làm nên sự nghiệp. Trong khi nhà người đi cầu viện ngoại bang, hết Xiêm đến Tàu làm tan nát cả sơn hà, cùng                đều bị chúa công ta đánh cho không còn manh giáp. Đem so với chúa công ta, nhà ngươi chẳng qua là ao trời nước vũng.

Chúa Nguyễn gằn giọng:

Người có tài sao không giữ nổi ngai vàng cho Cảnh Thịnh?

Bà đáp:

Nếu có một nữ tướng như ta nữa thì cửa Nhật Lệ không để lạnh. Nhà ngươi khó mà đặt chân được tới đất Bắc Hà...[11]

Kết

Bộ đồ thờ giản dị tại từ đường họ Bùi. Cổ vật hiện được trưng bày trong Bảo tàng Quang Trung (Bình Định, Việt Nam).

Sử gia Phạm Văn Sơn, viết:

Người ta cảm phục Bùi Thị Xuân chẳng riêng chỗ bà có nhan sắc hơn người, mà còn ở chỗ có gan dạ và trí lược của một đại tướng. Người ấy đã có công gây dựng một phần sự nghiệp của chồng và của ba anh em vua Tây Sơn, đã bao phen xuất nhập chiến trường, vào sinh ra tử...[12]

Cảm phục bà, một người (không rõ tên), đã làm bài thơ sau:

                 Vận nước đang xoay chuyển
            Quần thoa cũng vẫy vùng
            Liều thân lo cứu chúa
             Công trận quyết thay chồng.
            Khảng khái khi lâm nạn!
             Kiên trinh lúc khốn cùng
            Ngàn thu gương nữ liệt
           Gương sáng hãy soi chung.[13]

                       Và trong bài bút ký Còn mãi đến bây giờ của Hoàng Phủ Ngọc Tường, có đoạn:

Các gia đình họ Bùi hiện còn ở làng này đều là phái nhánh, còn phái chánh (tức phái của Bùi Thị Xuân) đã bị Gia Long giết sạch.

Bà sanh ở ấp Xuân hòa, nay gọi là Phú Xuân. Lớn lên, bà đi học võ nghệ với một võ sư người việt ở Thuần Truyền. Lò võ đó nổi tiếng từthời Lê đến nay. Môn sinh rất đông, cả nam lẫn nữ và bà làm trưởng môn. Ít lâu sau ngày Tây Sơn khởi nghĩa, bà dẫn cả đoàn võ sinh đến tòng quân, theo Nguyễn Huệ đánh Đông dẹp Bắc, sự nghiệp lừng lẫy. Ở bên Phú An nay hãy còn một đám đất gọi là Trường Võ, đó là nơi bà mở trường dạy võ nghệ cho các nghĩa sĩ trong quân đội Tây Sơn.

Thuở ấy, bà Bùi Thị Xuân còn là một nữ tướng trẻ tuổi, xinh đẹp. Ngoài tài năng võ nghệ, cầm binh, huấn luyện voi rừng (nghe đâu dãy gò Dinh, sông Côn là bãi tập voi của bà)...bà còn giỏi cả việc đi buôn trầu ở An Khê, có tài thuyết phục người ở miền Thượng hơn cảNguyễn Nhạc, giỏi cả việc khai hoang, làm thủy lợi như biến lòng một con suối khô, chỉ toàn là cát đá thành vùng đất màu mỡ “nhất đẳng điền” tên là ruộng Trại, rộng hơn hai chục hécta để lấy lúa nuôi quân...

Để đến nhà bà, chúng tôi đi thêm một quãng đường làng, rẽ vào một xóm nhỏ gồm ba bốn túp nhà xúm xít trên một khu đất chật chội, dừng lại trước một căn nhà hoang vắng. Đó chỉ là một căn nhà nhỏ, quá nhỏ đến không ngờ, nhà rường ba gian nhưng tất cả chỉ rộng độ 5 mét, nên 2 gian bên bị ép lại thành hai cái chái chật chội chỉ vừa đủ đặt một chiếc chõng đơn cho một người nằm...Đồ đạc không còn lại gì, ngoài một chiếc tủ gỗ mộc, phía dưới có những ngăn kéo, hình như xưa dùng để đựng quần áo. Tất cả chỉ có thế, từ thế kỷ 18 cho đến bây giờ!...[14]

  

%%%%%%%%%%%%%%%%%%%


13/  Nguyễn Trãi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nguyễn Trãi
Chân dung Nguyễn Trãi
Công việcNhà vănNhà thơChính trị gia
Quốc giaViệt Nam
Giai đoạn sáng tácNhà Lê

 Chủ đề Văn học

Nguyễn Trãi (chữ Hán: 阮廌), hiệu là Ức Trai (抑齋), 13801442, là đại thần nhà Hậu Lê, một nhân vật vĩ đại về nhiều mặt, rất hiếm có trong lịch sử. Công lao sự nghiệp của ông rất lớn. Đạo đức phong cách của ông rất cao đẹp. Ông là một anh hùng dân tộc vĩ đại, là nhà chính trị lỗi lạc, nhà chiến lược thiên tài, nhà ngoại giao kiệt xuất, đồng thời là một nhà văn lớn, nhà thơ lớn, nhà sử học, nhà địa lý học, nhà làm luật pháp và âm nhạc xuất sắc. Năm 1980, ông được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới nhân dịp kỉ niệm 600 năm ngày sinh của ông.

Ngay từ khi còn sống, Nguyễn Trãi đã được những người đương thời khen ngợi là:

Kinh bang hoa quốc, cổ vô tiền [1]

Nghĩa là:

Dựng nước và làm vẻ vang tổ quốc, từ xưa chưa ai được như ông.

Mục lục

 [ẩn]

[sửa]Thân thế

Chân dung khác của Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi (1380 - 1442), tên tự là Ức Trai, sống vào một giai đoạn lịch sử sôi động, từ cuối đời Trần, trải qua đời Hồ thời đấu tranh chống ách Minh thuộc (của nhà hậu Trần, của các phong trào nhân dân khắp nước, của nghĩa quân Lam Sơn) cho tới đầu đời Lê. Cha Nguyễn Trãi là Nguyễn Ứng Long tức Nguyễn Phi Khanh, tên hiệu là Nhị Khê, vốn gốc làng Chi Ngạihuyện Phượng Nhãn (nay thuộc Chí Linh Hải Dương), nhưng đã di cư sang làng Ngọc Ổi (sau đổi tên thành Nhị Khê) huyệnThượng Phúc (nay là huyện Thường Tín Hà Tây cũ).

Lúc còn là thư sinh, Nguyễn Ứng Long vì nổi tiếng hay chữ cho nên được Trần Nguyên Đán, tể tướng và là tông thất nhà Trần gả con gái cho. Năm 1374, Nguyễn Ứng Long đi thi, đậu Bảng Nhãn. Nhưng vì là con nhà thứ dân mà dám lấy con gái nhà hoàng tộc cho nên không được Trần Nghệ Tôngcho làm quan và đành trở về quê dạy học.

[sửa]Thời trẻ

Lúc ông lên 5 tuổi mẹ ông mất.

Nguyễn Trãi lúc nhỏ ở với ông ngoại là Trần Nguyên Đán. Năm 1385Trần Nguyên Đán về trí sĩ ở Côn Sơn, đem theo cả Nguyễn Trãi về đấy. Côn Sơn lại chính là nơi quê tổ của họ Nguyễn vì cả dãy núi này thuộc vào địa phận xã Chi Ngại, huyện Phượng Nhãn. Từ năm 1390, sau khi ông ngoại mất, Nguyễn Trãi về Nhị Khê ở với cha.

[sửa]Thời Hồ

Năm 1400Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần. Năm đó cũng là năm mở khoa thi đầu tiên của nhà Hồ. Nguyễn Trãi đi thi và đậu thái học sinh. Năm 1401, Nguyễn Ứng Long đổi tên là Nguyễn Phi Khanh và được nhà Hồ vời ra làm quan, lĩnh chức Quốc tử giám tư nghiệp. Còn Nguyễn Trãi thì sau khi thi đỗ được nhà Hồ cử giữ chức Ngự sử đài chính chưởng. Như vậy là hai cha con Nguyễn Trãi thuộc số những người ra làm quan với nhà Hồ ngay từ đầu.

Năm 1407nhà Minh đánh Đại Ngu. Cha con Hồ Quý Ly bị bắt đưa về Kim Lăng. Một số triều thần trong đó có Nguyễn Phi Khanh cũng bị bắt đi cùng với Hồ Quý Ly. Nguyễn Trãi muốn trọn đạo hiếu bèn đi theo cha, nhưng Nguyễn Phi Khanh khuyên con nên trở về Tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha thì mới là đạo hiếu[2]

Trên đường trở về Nguyễn Trãi bị người Minh bắt và đem giam lỏng ở thành Đông Quan (Hà Nội) và mặc dù bị đe dọa, mua chuộc, ông cũng không chịu ra làm quan với nhà Minh. Năm 1417, ông trốn khỏi Đông Quan, rồi sau đó tìm đường vào giúp Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã dâng lênLê Lợi tập Bình Ngô sách

Theo Ngô Thế Vinh (nửa đầu thế kỉ thứ 19), viết trong tựa sách Ức Trai thi văn tập thì phương châm cơ bản nêu trong Bình Ngô sách "không nói đánh thành mà giỏi bàn về cách đánh lòng" . Tư tưởng chiến lược này chính là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của nghĩa quân. Trong thời gian kháng chiến, Nguyễn Trãi đã giúp Lê Lợi trù hoạch quân mưu. Ông lại góp phần xây dựng chính quyền dân tộc đối lập với chính quyền xâm lược. Nguyễn Trãi đã nhân danh Lê Lợi viết những thư từ giao thiệp với tướng Minh. Những bức thư đó (về sau được tập hợp dưới cái tên Quân trung từ mệnh tập) có tính chiến đấu mạnh mẽ và có tác dụng lớn trong việc đánh vào tinh thần địch quân.

[sửa]Tướng văn trong khởi nghĩa Lam Sơn

Từ xa, Nguyễn Trãi đã nhận thấy ở Lê Lợi một người anh hùng lỗi lạc có thể đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thành công, nên Nguyễn Trãi đã bỏ qua nhiều phong trào khởi nghĩa ở các địa phương gần, để lặn lội vào miền núi rừng Thanh Hoa, tìm gặp Lê Lợi và gia nhập hàng ngũ nghĩa quân Lam Sơn. Đó là những ngày ở Lỗi Giang, nhưng tên tuổi, sự nghiệp của ông ghi lại trong lịch sử của dân tộc, chỉ là từ sau khi nghĩa quân Lam Sơn rút về núi Chí Linh lần thứ ba, tức là từ năm 1423[3]

Từ sau cuộc gặp gỡ ở Lỗi Giang, thì theo Trần Khắc Kiệm chép trong {(lời tựa Ức Trai thi tập) Ức Trai di tập quyển 5} Phàm những việc quân, việc nước quan trọng đều trao cho ông cả. Nguyễn Trãi đã vận dụng Bình Ngô đại cáo của ông để trù tính giải quyết mọi việc quân, việc nước quan trọng. Ông đã thành công trong việc mở rộng phong trào Lam Sơn từ một cuộc khởi nghĩa địa phương, bó hẹp trong vùng rừng núi phủ Thanh Hoa thành chiến tranh cả nước đánh giặc và đưa phong trào, từ sau khi về núi Chí Linh lần thứ ba, sang một giai đoạn phát triển mới, giai đoạn tiến công liên tục, mãnh liệt càng đánh càng được, đi đến đâu đánh tan đến đấy, như phá vật nát, như bẻ cành khô [4]

Đặc biệt trong giai đoạn từ 1425, khi quân Lam Sơn trên đà thắng lợi, vây hãm nhiều thành trì của quân Minh, Nguyễn Trãi thường viết thư gửi cho tướng giặc trong thành để dụ hàng hoặc làm nản ý chí chiến đấu của tướng giặc.

Năm 1427, ông được liệt vào hàng Đại phu, coi sóc các việc chính trị và quản công việc ở Viện Khu mật. Quân Lam Sơn giải phóng vùng Bắc Bộ, đánh tan viện binh của Vương Thông. Thông rút vào cố thủ trong thành Đông Quan. Vua Minh sai Liễu Thăng và Mộc Thạnh chia làm 2 đường, cầm hơn 10 vạn quân sang cứu viện. Lúc đó quân Lam Sơn đứng trước hai chọn lựa vì sắp phải đối phó với địch bên ngoài vào và địch đánh ở trong thành ra. Lực lượng của Vương Thông hợp với quân Minh sang từ trước đã có khoảng 10 vạn người, quân Lam Sơn vây hãm có chút lơi lỏng đã bị địch ra đánh úp, phải trả giá cao bằng việc mất 4 tướng giỏi: Lê TriệnĐinh Lễ bị tử trận, Đỗ Bí và Nguyễn Xí bị bắt. Chỉ có Nguyễn Xí sau đó nhờ mưu trí và nhanh nhẹn đã trốn thoát về.

Số đông các tướng nóng lòng muốn hạ gấp thành Đông Quan để hết lực lượng làm nội ứng cho Liễu Thăng và Mộc Thạnh. Riêng Nguyễn Trãi không đồng tình với quan điểm đó. Ông kiến nghị với Lê Lợi ý kiến của mình và được chấp thuận. Và Lê Lợi đã theo kế của ông nói với các tướng rằng:

"Đánh Đông Quan là hạ sách. Nếu ta đánh thành kiên cố đó, phải mất mấy tháng hoặc hàng năm, chưa chắc đã hạ nổi, binh sĩ ta phải mệt mỏi chán nản. Đang khi đó, viện binh của địch kéo dến, thế là ta bị địch đánh cả đằng trước, đằng sau, đó là rất nguy. Chi bằng ta hãy nuôi sức khoẻ, chứa dũng khí chờ đánh viện binh. Khi viện binh đã bị phá, tất nhiên quân trong thành phải hàng, thế là ta chỉ khó nhọc một phen mà thu lợi gấp hai."

Diễn biến chiến sự sau đó quả như Nguyễn Trãi tiên đoán. Lê Lợi điều các tướng giỏi lên đánh chặn hai đạo viện binh, giết được Liễu ThăngMộc Thạnh bỏ chạy về nước. Vương Thông trong thành tuyệt vọng không còn cứu binh phải mở cửa thành ra hàng, cùng Lê Lợi thực hiện "hội thề Đông Quan", xin rút quân về nước và cam kết không sang xâm phạm nữa.

Bài chi tiết: Khởi nghĩa Lam Sơn

Theo lệnh của Lê Lợi, Nguyễn Trãi thảo bài Bình Ngô đại cáo để bá cáo cho thiên hạ biết về việc đánh giặc Minh, được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của Việt Nam (sau bài thơ Nam quốc sơn hà).

Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, ban thưởng cho 227 công thần, Nguyễn Trãi được phong là Triều đại phu, Nhập nội hành khiển, Lại bộ thượng thư, tước Quan phục hầu. Trong công cuộc xây dựng đất nước vừa được giải phóng, Nguyễn Trãi đã có nhiều đóng góp lớn, tuy chức vụ của ông chưa phải là chức vụ chủ chốt nhất trong triều để có thể làm cho ông thi thố hết tài năng. Ông đã khuyên Lê Lợi kêu gọi những người "hiền tài" ra giúp nước, và năm 1429 thay nhà vua viết tờ Chiếu cầu hiền. Năm 1430, ông thay nhà vua viết Chiếu cấm các đại thần, tổng quản cùng các quan ở viện, sảnh, cục tham lam lười biếng. Năm 1431, ông thay nhà vua viết tờ Chiếu cho Tư Tề quyền nhiếp quốc chính. Năm 1433, Tư Tề vì cuồng dại, ngớ ngẩn không đương nổi việc nước, bị giáng xuống làm quận vương, ông thay nhà vua viết tờ Chiếu giáng Tư Tề làm quận vương, đặt con thứ là Nguyên Long nối nghiệp. Ông cũng lại thay nhà vua làm tờ Chiếu về việc làm bài Hậu tự huấn để răn bảo thái tử và Chiếu bàn về phép tiền tệ, v.v... [5]

[sửa]Công thần bị tội

[sửa]Bị vạ với người trong họ

Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, phong ông tước Quan Phục hầu và cho theo họ Lê của vua.

Sau thắng lợi 1 năm, đầu năm 1429, Lê Lợi nghi ngờ Trần Nguyên Hãn, một tướng giỏi vốn là dòng dõi nhà Trần định mưu phản, nên sai người đi bắt hỏi tội. Trần Nguyên Hãn nhảy xuống sông tự vẫn. Vì Nguyên Hãn là anh em họ của Nguyễn Trãi nên ông cũng bị bắt giam vì nghi ngờ có liên quan tới tội mưu phản. Sau đó vì không có chứng cứ buộc tội, vua Lê lại thả ông ra. Tuy nhiên cũng từ đó ông không còn được trọng dụng như trước nữa.

Thực chất, cuộc thanh trừng công thần của Lê Thái Tổ có động cơ từ việc muốn thiên hạ hết mong nhớ nhà Trần; đồng thời cũng là cuộc tranh chấp quyền lực thời bình giữa các tướng có xuất thân họ hàng hoặc cùng quê với vua Lê - do Lê Sát đứng đầu - và các tướng xuất thân vùng khác, tiêu biểu là Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo. Hơn nữa đó lại còn là cuộc tranh chấp ngôi thái tử giữa con cả của vua là Lê Tư Tề (người từng tham gia khởi nghĩa Lam Sơn và được Nguyên Hãn ủng hộ) với con thứ Lê Nguyên Long (được Lê Sát ủng hộ).

Bị oan khuất, sau khi ra khỏi ngục, ông làm bài Oan thán bày tỏ nỗi bi phẫn, trong đó có câu:

Hư danh thực họa thù kham tiếu,
Chúng báng cô trung tuyệt khả liên.

Dịch:

Danh hư thực họa nên cười quá,
Bao kẻ dèm pha xót người trung

[sửa]Vụ án Lệ Chi Viên

Xem chi tiết: Vụ án Lệ Chi Viên

Năm 1433, Thái Tổ mất, thái tử Nguyên Long lên nối ngôi, tức là Lê Thái Tông. Những năm đầu, Tư đồ Lê Sát làm phụ chính điều hành triều chính. Nguyễn Trãi tham gia giúp vua mới. Nhân bàn về soạn lễ nhạc, Nguyễn Trãi khuyên nhà vua:

"Nguyện xin bệ hạ yêu thương và nuôi dưỡng dân chúng để nơi thôn cùng xóm vắng không có tiếng oán hận sầu than".

Năm 1435, ông soạn sách Dư địa chí để vua xem nhằm nâng cao sự hiểu biết, niềm tự hào và ý thức trách nhiệm của nhà vua đối với non sông đất nước.

Bị các quyền thần đứng đầu là Lê Sát chèn ép, Nguyễn Trãi cáo quan về ở ẩn tại Côn SơnChí Linh, thuộc tỉnh Hải Dương ngày nay.

Tuy nhiên, trái với dự tính của Lê Sát, Thái Tông còn ít tuổi nhưng không dễ trở thành vua bù nhìn để Sát khống chế mãi. Năm 1437, nhà vua anh minh nhanh chóng chấn chỉnh triều đình, cách chức và giết các quyền thần Lê Sát, Lê Ngân; các lương thần được trọng dụng trở lại, trong đó có Nguyễn Trãi. Lúc đó ông đã gần 60 tuổi, lại đảm nhiệm chức vụ cũ, kiêm thêm chức Hàn lâm viện Thừa chỉ và trông coi việc quân dân hai đạo Đông, Bắc (cả nước chia làm 5 đạo). Thời gian phò vua Thái Tông, Nguyễn Trãi tiếp tục phát huy được tài năng của ông. Tuy nhiên khi triều chính khá yên ổn thì cung đình lại xảy ra tranh chấp.

Vua Thái Tông ham sắc, có nhiều vợ, chỉ trong 2 năm sinh liền 4 hoàng tử. Các bà vợ tranh chấp ngôi thái tử cho con mình nên trong triều xảy ra xung đột. Vua truất hoàng hậu Dương Thị Bí và ngôi thái tử của con bà là Lê Nghi Dân lên 2 tuổi, lập Nguyễn Thị Anh làm hoàng hậu và cho con của bà này là Lê Bang Cơ chưa đầy 1 tuổi làm thái tử. Cùng lúc đó một bà vợ khác của vua là Ngô Thị Ngọc Dao lại sắp sinh, hoàng hậu Nguyễn Thị Anh sợ đến lượt mẹ con mình bị phế nên tìm cách hại bà Ngọc Dao. Nguyễn Trãi cùng một người vợ thứ là Nguyễn Thị Lộ tìm cách cứu bà Ngọc Dao đem nuôi giấu, sau bà sinh được hoàng tử Tư Thành (tức vua Lê Thánh Tông sau này).

Tháng 7 năm 1442, vua Lê Thái Tông về qua nhà Nguyễn Trãi tại Côn Sơn (Chí LinhHải Dương ngày nay), vợ Nguyễn Trãi là bà Nguyễn Thị Lộ theo "hầu" vua. Trên đường về kinh Vua đột ngột qua đời tại vườn hoa Lệ Chi Viên nay thuộc Gia BìnhBắc Ninh. Nguyễn Trãi bị triều đình do hoàng hậu Nguyễn Thị Anh cầm đầu khép tội giết vua và bị giết cả 3 họ (tru di tam tộc) ngày 16 tháng 8 năm 1442. "Tru di tam tộc" là giết người trong họ của người bị tội, họ bên vợ và họ bên mẹ của người đó. Theo gia phả họ Nguyễn, ngoài những người họ Nguyễn cùng họ với ông, còn có những người họ Trần cùng họ với bà Trần Thị Thái mẹ ông, người trong họ bà Nhữ thị vợ thứ của Nguyễn Phi Khanh, những người trong họ của các bà vợ Nguyễn Trãi (kể cả vợ lẽ), tất cả đều bị xử tử.

Thái tử Bang Cơ mới 1 tuổi, con trai Nguyễn Thị Anh được lập làm vua, tức là Lê Nhân Tông.

[sửa]Gia quyến lưu tán

Theo gia phả họ Nguyễn, Nguyễn Trãi có năm người vợ:

Sau vụ án Lệ Chi Viên, dòng họ Nguyễn Trãi ở Chi Ngại, Nhị Khê gần như bị thảm sát hết. Trong các phả hệ ghi lại số ít thoát nạn là:

  • Nguyễn Phi Hùng, em thứ ba của Nguyễn Trãi chạy về Phù Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh;
  • Nguyễn Phù con Nguyễn Trãi chạy lên Cao Bằng, đổi họ sang họ Bế Nguyễn.
  • Bà họ Lê vợ thứ năm của Nguyễn Trãi mang thai chạy về Phương Quất, huyện Kim Môn, Hải Dương.
  • Bà Phạm Thị Mẫn vợ thứ tư của Nguyễn Trãi có mang ba tháng, được người học trò cũ của Nguyễn Trãi là Lê Đạt đưa bà chạy trốn vào xứ Bồn Man (phía Tây Thanh Hóa); sau lại về thôn Dự Quần, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Tại đây, bà sinh ra Nguyễn Anh Vũ. Để tránh sự truy sát của triều đình, Nguyễn Anh Vũ đổi sang họ mẹ là Phạm Anh Vũ.

[sửa]Được minh oan

Theo một số nghiên cứu gần đây, thủ phạm gây ra cái chết của vua Thái Tông chính là hoàng hậu Nguyễn Thị Anh và bà đã đổ tội cho Nguyễn Trãi.

Tuy nhiên, ngay đương thời đã có nhiều người biết việc oan khuất của Nguyễn Trãi. Hơn 10 năm sau, mẹ con vua Nhân Tông bị người con cả Thái Tông là Nghi Dân giết chết để giành lại ngôi vua. Nhưng rồi Nghi Dân nhanh chóng bị lật đổ. Người con thứ của Thái Tông là Khắc Xương từ chối ngôi báu nên người con út là Tư Thành được vợ chồng Nguyễn Trãi cứu thoát trước kia, nay được Nguyễn Xí rước lên ngôi, tức là Lê Thánh Tông.

Năm 1464, Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho Nguyễn Trãi. Con cháu ông được tìm lại và bổ dụng. Người con út sinh ra sau khi ông qua đời là Nguyễn Anh Vũ được Lê Thánh Tông phong cho chức Đồng Tri Phủ huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa), cấp cho 100 mẫu ruộng gọi là "Miễn hoàn điền" (ruộng không phải trả lại) con cháu đời đời được hưởng. Nguyễn Anh Vũ xây dựng mộ chí của Nguyễn Trãi tại xứ đồng Tai Hà, làng Dự Quần, lấy sọ dừa, cành dâu táng làm cốt; lấy ngày mất của Nguyễn Trãi - 16 tháng 8 là ngày giỗ họ [6]

Năm 1464, Lê Thánh Tông đã chính thức minh oan cho Nguyễn Trãi. Ông ca ngợi Nguyễn Trãi là Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo, truy tặng tước Tán Trù Bá, ban cho con là Anh Vũ chức huyện quan. Năm 1467, Lê Thánh Tông ra lệnh sưu tầm di cảo thơ văn Nguyễn Trãi. Việc làm này có thể đã góp phần bảo tồn một phần quan trọng các di sản văn hóa mà Nguyễn Trãi đã để lại.

Nhiều người hiểu sai khi dịch nghĩa "Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo" là "Lòng Ức Trai sáng tựa sao khuê", dịch chính xác phải là"Ức Trai lòng soi sáng văn chương"

Nguyên ăn bài thơ

Cao Đế anh hùng cái thế danh

Văn Hoàng trí dũng phủ doanh thành

Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo

Vũ Mục hung trung liệt giáp binh

Thập Trịnh đệ huynh liên quý hiển

Nhị Thân phụ tử bội ân vinh

Hiếu tôn Hồng Đức thừa phi tự

Bát bách Cơ Chu lạc thái bình

Dịch nghĩa

Đức Cao Đế (Lê Thái Tổ) là bậc anh hùng đệ nhất thiên hạ

Đức Văn Hoàng (Lê Thái Tông) trí dũng kế thừa cơ nghiệp

Ức Trai (Nguyễn Trãi) lòng soi sáng văn chương

Vũ Mục (Lê Khôi) bụng chứa đầy binh giáp

Mười anh em họ Trịnh (con thái uý Trịnh Khả) tất thảy đều vẻ vang phú quý

Hai cha con họ Thân (Thân Nhân Trung và Thân Nhân Tín) đều hưởng ân vinh lớn

Cháu hiếu là Hồng Đức (Lê Thánh Tông) nay kế thừa nghiệp lớn

Vui hưởng thái bình như nhà Chu tám trăm năm

Dù vậy, các nhà nghiên cứu vẫn băn khoăn chưa rõ vì sao một vị vua được coi là anh minh và quyết đoán như Lê Thánh Tông, đã minh oan cho Nguyễn Trãi, một đại công thần sáng lập vương triều Lê, người đã cùng với vợ là Nguyễn Thị Lộ ra sức che chở cho mẹ con nhà vua lúc gian nan, mà chỉ truy tặng tước , thấp hơn cả tước hầu vốn được Lê Thái Tổ ban phong khi ông còn sống. Các công thần khác của nhàHậu Lê thường được các vua đời sau truy tặng tước cao hơn, như công và sau nữa lên vương.

Năm 1512, vua Lê Tương Dực sai làm chế văn truy tặng ông tước Tế Văn hầu, trong đó có câu [7]:

"Long hổ phong vân chi hội, do tưởng tiền duyên;
"Văn chương sự nghiệp chi truyền, vĩnh thùy hậu thế"

Dịch là:

"Gặp gỡ long hổ phong vân, còn ghi duyên cũ"
"Truyền tụng văn chương sự nghiệp, để mãi đời sau"

Năm 1980 nhân kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Nguyễn Trãi, UNESCO đã công nhận ông là danh nhân văn hóa thế giới.

[sửa]Những đánh giá

  • Lê Thánh Tông trong bài Minh lương viết trong Quỳnh uyển cửu ca có câu: Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo (Tâm hồn Úc Trai trong sáng như sao Khuê buổi sớm), và Lê Thánh Tông đánh giá ông trên tất cả các văn thần võ tướng có danh vọng nhất của thời Lê.
  • Người thế Kỉ 16, như Hà Nhậm Đại, đã nói về công lao sự nghiệp của ông:
Công giúp hồng đồ cao nữa (tựa) núi
Danh ghi thanh sử sáng bằng gương [8]
  • Người thế kỉ 17 còn đánh giá ông cao hơn nữa. Đỗ Nghi cũng là người triều Lê, nhưng ông đã nói thẳng: Nhà Lê sở dĩ lấy được thiên hạ đều do sức ông cả và Đỗ Nghi tiếc rằng: Tiếc thay trời chưa muốn bình trị thiên hạ, cho nên cuối cùng ông vẫn chỉ làm chức hành khiển Đông đạo, không được giở hết hoài bão của mình; việc đó không phải là không may cho ông, mà chính là không may cho sinh dân đời Lê vậy[9]
  • Sang thế kỉ 18 Dương Bá Cung cũng phải thừa nhận công lao của ông trùm khắp trên đời [10]
  • Lê Quý Đôn trong Kiến Văn tiểu lục nhận định về ông: "đứng vào bậc nhất một đời, chức vị Thượng thư, cấp bậc công thần. Cứ xem ông giúp chính trị hai triều vua hết lòng trung thành, tuy dâng lời khuyên răn thường bị đè nén mà không từng chịu khuất... nhưng vì tối nghĩa về "chỉ, túc" thành ra cuối cùng không giữ được tốt lành, thật đáng thương xót!... Người có công lao đứng đầu về việc giúp rập vua, thì ngàn năm cũng không thể mai một được"[11].
  • Cho tới 400 năm sau khi Nguyễn Trãi chết, người Việt Nam ở thế kỷ 19 vẫn rất mực tôn quý ông và khẳng định: Nước Việt ta, từ Đinh, Lê, Lý, Trần, đời nào sáng lập cơ nghiệp đế vương, tất cũng đều phải có các tướng tá giúp sức, nhưng tìm được người toàn tài toàn đức như Ức Trai tiên sinh, thật là ít lắm [12]
  • Ở thế kỉ 20, thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đánh giá: Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc, văn võ song toàn; văn là chính trị: chính trị cứu nước, cứu dân, nội trị ngoại giao "mở nền thái bình muôn thủa, rửa nỗi thẹn nghìn thu"; võ là quân sự: chiến lược và chiến thuật, "yếu đánh mạnh ít địch nhiều ... thắng hung tàn bằng đại nghĩa"; văn và võ đều là võ khí, mạnh như vũ bão, sắc như gươm đao: "viết thư thảo hịch tài giỏi hơn hết một thời" (Lê Quý Đôn), "văn chương mưu lược gắn liền với sự nghiệp kinh bang tế thế" (Phan Huy Chú). Thật là một con người vĩ đại về nhiều mặt trong lịch sử nước ta[13]

Công lao, sự nghiệp của Nguyễn Trãi rõ ràng là huy hoàng, vĩ đại, Nguyễn Trãi quả thật là anh hùng, là khí phách, là tinh hoa của dân tộc. Công lao quý giá nhất và sự nghiệp vĩ đại nhất của Nguyễn Trãi là tấm lòng yêu nước yêu dân tha thiết và sự nghiệp đánh giặc cứu nước vô cùng vẻ vang của ông. Ông đã đem hết tâm hồn, trí tuệ, tài năng phục vụ lợi ích của dân tộc trong phong trào khởi nghĩa Lam Sơn. Tư tưởng chính trị quân sự ưu tú và tài ngoại giao kiệt xuất của ông đã dẫn đường cho phong trào khởi nghĩa Lam Sơn đi tới thắng lợi.[14]Thiên tài của Nguyễn Trãi là sản phẩm của phong trào đấu tranh anh dũng của dân tộc trong một cao điểm của lịch sử. Thiên tài ấy đã để lại một sự nghiệp lớn về nhiều mặt mà chúng ta còn phải tiếp tục tìm hiểu thêm mới có thể đánh giá đầy đủ và chính xác được. Dầu sao, nếu chỉ xét về mặt văn hóa thì cũng có thể khẳng định rằng Nguyễn Trãi đã cắm một cột mốc quan trọng trên con đường tiến lên của dân tộc Việt Nam, đặc biệt là lĩnh vực văn học.

[sửa]Dòng dõi Nguyễn Bặc và tổ tiên chúa Nguyễn?

Theo một số gia phả họ Nguyễn, tổ tiên của Nguyễn Trãi chính là Định Quốc công Nguyễn Bặc thời nhà Đinh và con cháu ông có một chi trở thành các Chúa Nguyễn.

Tác giả Đinh Công Vĩ dẫn trong sách Nhìn lại lịch sử 7 cuốn gia phả, ngọc phả về họ Nguyễn bằng chữ Hán và chữ Nôm, theo đó các nguồn tài liệu này cũng không thống nhất.

Tác giả Nguyễn Khắc Minh trong bài Tìm hiểu phả hệ dòng họ Nguyễn Trãi nêu ra 14 cuốn gia phả viết bằng Hán, Nôm của các chi họ Nguyễn.

Nhìn chung, thông tin từ các gia phả không thống nhất với nhau, nhưng tựu chung từng nhóm đưa ra các thông tin riêng lẻ:

  1. Nguyễn Trãi là dòng dõi Nguyễn Bặc
  2. Nguyễn Trãi là tổ tiên chúa Nguyễn
  3. Nguyễn Bặc là tổ tiên họ Nguyễn Gia Miêu của Chúa Nguyễn
  4. Nguyễn Bặc là tổ tiên Nguyễn Trãi và Nguyễn Trãi cũng là tổ tiên các Chúa Nguyễn.

[sửa]Con cháu Nguyễn Bặc?

Theo tài liệu của tác giả Nguyễn Khắc Minh với 14 cuốn gia phả viết bằng Hán, Nôm của các chi họ, trong đó cũ nhất là thời: Hồng Thuận Tứ Niên (Lê Tương Dực - năm 1513), Cảnh Hưng nguyên niên (năm 1740), gần đây nhất là cuốn gia phả sao lại năm 1962.

Theo đó, về nguồn gốc của các chi họ, gia phả đều thống nhất ghi: Nguyên quán tổ tiên đời trước của họ ta ở xã Chi Ngại, huyện Phượng Nhỡn, phủ Lạng Giang, trấn Kinh Bắc (nay là thôn Chi Ngãi, xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương). Sau dời về làng Hạ, xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc; phủ Thường Tín, đạo Sơn Nam.

Về gốc tích cội nguồn họ Nguyễn ở thôn Chi Ngại, truyền thuyết của dòng họ kể rằng: Tổ tiên dòng họ Thái Tể triều Đinh - Đinh Quốc CôngNguyễn Bặc (924 - 979) người Hoằng Hóa - Thanh Hóa, có công giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân để lập ra triều Đinh. Khi Nguyễn Bặc kéo quân về Côn Sơn dẹp sứ quân của Phạm Phòng Át (Phạm Bạch Hổ), ông để lại con cháu của mình cùng năm vị tướng quân họ Phí ở lại Chi Ngại cai quản vùng đất này. Khi năm anh em họ Phí mất, người dân Chi Ngại tôn họ làm Thành Hoàng, lập đền thờ cúng. Đình làng Chi Ngại bị phá hủy trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nhưng bài vị, ngai thờ và thần tích của năm vị tướng họ Phí vẫn được lưu giữ thờ phụng đến ngày nay (nay bài vị của năm vị Thành Hoàng thờ ở chùa Ngái của thôn Chi Ngại). Từ đó dòng họ Nguyễn sinh ra hai con trai. Vì nhà nghèo, hai anh em họ Nguyễn từ Chi Ngại đến Trại Ổi (tức làng Nhị Khê - Thường Tín, Hà Đông) sinh sống và trở thành tổ tiên của Nguyễn Trãi.

Tài liệu của tác giả Nguyễn Khắc Minh sau đó chỉ tập trung vào Nguyễn Trãi và người con sống sót của ông sau Vụ án Lệ Chi Viên là Nguyễn Anh Vũ mà không đề cập tới các chúa Nguyễn. Theo đó, con cháu Nguyễn Phi Khanh phân tán đi các nơi, sau này có 2 nhân vật nổi tiếng là Nguyễn Thiện Thuật và Nguyễn Văn Cừ.

Tuy nhiên, nguồn gốc của họ Nguyễn thôn Chi Ngại cũng chỉ là truyền thuyết của dòng họ và điều này không thống nhất với sử sách. Theo sử sách, Nguyễn Bặc người châu Đại Hoàng (Ninh Bình), không phải người Thanh Hóa; và sứ quân Phạm Phòng Át tự nguyện về hàng phục Đinh Bộ Lĩnh, Bộ Lĩnh không cần sai tướng (Nguyễn Bặc) đi đánh dẹp sứ quân họ Phạm. Hơn nữa, thời điểm soạn thảo gia phả này cũng khá xa thời Nguyễn Bặc (hơn 530 năm).

[sửa]Tổ họ Nguyễn Gia Miêu?

Sách Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh và công cuộc khai sáng miền nam nước Việt cuối thế kỉ XVII của Nguyễn Ngọc Hiền chép về tổ tiên của Nguyễn Hữu Cảnh, người có công mở đất Nam Bộ ghi thế thứ các đời họ Nguyễn từ Nguyễn Bặc như sau:

  1. Nguyễn Bặc (924-979)
  2. Nguyễn Đệ
  3. Nguyễn Viễn
  4. Nguyễn Phụng (?-1150)
  5. Nguyễn Nộn (?-1229; cát cứ cuối thời nhà Lý, đầu thời nhà Trần)
  6. Nguyễn Thế Tứ
  7. Nguyễn Nạp Hoa (?-1377)
  8. Nguyễn Công Luật (?-1388)
  9. Nguyễn Công Sách
  10. Nguyễn Ứng Long (Nguyễn Phi Khanh 1355-1428)
  11. Nguyễn Trãi (1380-1442)
  12. Nguyễn Công Duẩn và Nguyễn Anh Vũ
  13. Nguyễn Đức Trung (1404-1477)

Theo gia phả họ Nguyễn, có 2 người con của Nguyễn Trãi còn sống và được bổ dụng sau này. Một người con cả là Nguyễn Công Duẩn từng tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, không có mặt ở nhà khi cả họ bị hình nên thoát nạn. Người con nhỏ là con của một người vợ thứ của Nguyễn Trãi đã có mang cũng trốn thoát khi cả nhà bị hình, sau sinh được Nguyễn Anh Vũ. Gia phả họ Nguyễn còn ghi: sau này 2 chi của Công Duẩn và Anh Vũ trở thành hai ngành nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, một ngành là các Chúa Nguyễn và một ngành là họ Nguyễn Hữu có công giúp các chúa Nguyễn khai phá Nam Bộ. (Xem chi tiết: Chúa NguyễnNguyễn Hữu Cảnh.)

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã khảo cứu nhiều nguồn tài liệu, gia phả họ Nguyễn khác cũng như các sử sách để kết luận rằng: Nguyễn Trãi không phải ông tổ của các Chúa Nguyễn. Theo một số nhà nghiên cứu, gia phả này chép lẫn gia phả họ Nguyễn Gia Miêu (chúa Nguyễn - ở Thanh Hóa) vào họ Nguyễn Nhị Khê (Nguyễn Trãi - ở Hà Tây). Những người nhà Nguyễn Trãi đã lấy giả mạo là người họ Nguyễn Gia Miêu do phải trốn tránh họa tru di. Căn cứ của tác giả Nguyễn Ngọc Hiên trong sách Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh (1997) và sau đó tác giả Phạm Côn Sơn trong sách Tông phả kỉ yếu tân biên (2006) dẫn lại thông tin từ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh đều từ các nguồn phả hệ không chuẩn xác.

[sửa]Nguyễn Công Duẩn

Theo một gia phả họ Nguyễn khác, Tiên nguyên toát yếu phổ của Tôn Thất Hân, Nguyễn Công Duẩn là người tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ ngày đầu (trong khi Nguyễn Trãi sau này mới gia nhập), quê ở Gia Miêu, Tống Sơn, Thanh Hóa và không phải là con Nguyễn Trãi:

  1. Nguyễn Bặc
  2. Nguyễn Đệ
  3. Nguyễn Viễn
  4. Nguyễn Phụng
  5. Nguyễn Nộn
  6. Nguyễn Thế Tứ
  7. Nguyễn Minh Du
  8. Nguyễn Biện
  9. Nguyễn Sử
  10. Nguyễn Công Duẩn (hay Chuẩn) - công thần khởi nghĩa Lam Sơn
  11. Nguyễn Đức Trung - đại thần tham gia lật đổ Lê Nghi Dân năm 1460.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, có thể do con cháu Nguyễn Trãi giả mạo, dùng lí lịch họ Nguyễn Gia Miêu để che thân phận mình. Theo nhà sử học Phan Huy Lê:

Nguyễn Biện là người Gia Miêu, là dòng dõi Nguyễn Bặc trở xuống. Sau vụ án Lệ Chi viên, con cháu Nguyễn Trãi đã lấy tên Nguyễn Biện mà thay thế tên Ứng Long ở trong gia phả. Trong họ của Bế Nguyễn (họ Nguyễn ở Cao Bằng đổi ra họ Bế - tức là con cháu của Nguyễn Phù, xem phần "Gia quyến lưu tán" phía trên) có di chúc truyền khẩu: "Phải đời đời thờ cúng phụ đạo Nguyễn Biện đã có công bảo vệ hậu duệ tổ Ứng Long".

Một số nhà nghiên cứu, do không khảo cứu hết các nguồn gia phả họ Nguyễn (vốn không thống nhất với nhau và có những nguồn tài liệu bị sai lạc) và người sau kế tục sử dụng những thành quả của những tài liệu trước, nên đã cùng lầm lẫn rằng Nguyễn Trãi là hậu tổ (Nguyễn Bặc là thủy tổ) họ Nguyễn Gia Miêu. Tác giả Nguyễn Ngọc Hiền trong Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh và sau đó là Phạm Côn Sơn trongTông phả tân biên kỉ yếu cùng đưa ra phả hệ rất không hợp lí về dòng họ Nguyễn.

Đối với việc không có Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi trong một số gia phả họ Nguyễn, tác giả Nguyễn Ngọc Hiền lại theo ý kiến của một số chi hậu duệ họ Nguyễn ngày nay cho rằng, do cha con Phi Khanh theo nhà Hồ, mà nhà Hồ đã giết hại Nguyễn Công Luật (tổ đời thứ 8) nên bị khai trừ ra khỏi họ. Sau đó, do Nguyễn Trãi có công theo Lê Lợi bình Ngô nên lại được đưa vào. Tuy nhiên, nếu xét chi tiết tới thế thứ của giả thuyết này, sẽ có nhiều chỗ không hợp lí.

Theo đó (xem thế thứ 13 đời phần trên), từ Nguyễn Bặc mất năm 979 tới Nguyễn Nộn đời thứ 5 mất năm 1229, tức là hơn 60 năm mới có một thế hệ; sau đó từ Nguyễn Nộn mất tới Nguyễn Nạp Hoa đời thứ 7 mất tận năm 1377 (tức là gần 80 năm mới có một thế hệ); sau đó từ Nguyễn Công Luật đời thứ 8 tới Nguyễn Trãi (đời thứ 11), Công Duẩn (đời thứ 12), Đức Trung (đời thứ 13, sinh năm 1404) rồi thị Hằng (đời thứ 14, sinh con năm 1461). Như vậy 7 đời đầu cách nhau 400 năm, 7 đời sau lại dồn vào chỉ khoảng 65 năm cuối thế kỉ 14, đầu thế kỉ 15.

Vì lẽ đó, nhiều ý kiến nghiêng về khả năng họ Nguyễn Nhị Khê "mượn cửa" họ Nguyễn Gia Miêu để lánh nạn hơn.

[sửa]Nguyễn Đức Trung

Có một sự kiện sử sách đã chép lại (các sách Đại Việt thông sử và Khâm định Việt sử Thông giám cương mục) cho thấy: Nguyễn Đức Trung (cha Trường Lạc hoàng hậu Nguyễn Thị Hằng) - người được giả thuyết ban đầu coi là cháu nội Nguyễn Trãi - có 2 hành trạng mâu thuẫn với giả thuyết này:

  • Nguyễn Đức Trung được cất nhắc làm Điện tiền chỉ huy sứ dưới ngay thời vua Lê Nhân Tông - vua thiếu niên có sự nhiếp chính của thái hậu Nguyễn Thị Anh, người vừa khép tội gia hình Nguyễn Trãi trước đó không lâu;
  • Nguyễn Đức Trung sau đó tham gia cùng Nguyễn Xí, Lê Lăng lật đổ Lê Nghi Dân từ năm 1460.

Trong khi đó, tận năm 1464 Lê Thánh Tông mới minh oan cho Nguyễn Trãi và sai tìm lại dòng dõi đang phải trốn tránh của ông. Một nhà vừa bị tru di tam tộc, ngay cả họ hàng của mẹ kế Nguyễn Trãi và họ hàng của các vợ lẽ của ông cũng không được thoát nạn, không thể có người cháu nội được cất nhắc lên làm đại thần trong triều bên cạnh các bậc "nguyên lão" như Nguyễn XíLê Lăng. Vì vậy, chắc chắn Đức Trung không thể là cháu nội Nguyễn Trãi.

Các tác giả theo giả thuyết "Nguyễn Trãi là ông nội Nguyễn Đức Trung" đã không xem xét tới sự kiện này trong sử sách.

[sửa]Trường Lạc hoàng hậu

Một số giai thoại cho rằng Nguyễn Trãi không chỉ là cha Nguyễn Anh Vũ - người phải đổi sang họ mẹ là Phạm Anh Vũ trong thời gian trốn tránh - mà còn là cha Nguyễn Thị Hằng - người sau này trở thành hoàng hậu Trường Lạc của Lê Thánh Tông. Thánh Tông tìm được Anh Vũ và Thị Hằng rồi lấy luôn bà làm vợ.

Các nhà sử học đã nhất trí rằng đây chỉ là giai thoại dân gian. Nguyễn Thị Hằng đã được sử sách ghi nhận là con đại thần Nguyễn Đức Trung. Các tài liệu gia phả được nghiên cứu, chọn lọc (nêu trên) đã cho thấy Nguyễn Đức Trung là con Nguyễn Công Duẩn và Công Duẩn không phải là con Nguyễn Trãi.

Như vậy có tới hai nguồn thông tin sai lạc về quan hệ giữa Nguyễn Trãi và Trường Lạc hoàng hậu: nguồn đầu cho rằng ông là cha hoàng hậu, nguồn thứ hai cho rằng ông là cụ của hoàng hậu. Thực tế ông không có quan hệ họ hàng với Nguyễn Thị Hằng.

Có một minh chứng nữa cho việc Nguyễn Trãi không phải là cha hay cụ của hoàng hậu Nguyễn Thị Hằng. Điều này tương tự như thời gian hành trạng của cha bà - Nguyễn Đức Trung. Tới tận năm 1464 Nguyễn Trãi mới được minh oan nhưng năm 1461 Nguyễn Thị Hằng đã là hoàng hậu của Lê Thánh Tông và đã sinh ra thái tử Lê Tranh, sau trở thành Lê Hiến Tông.

[sửa]Kết luận

  • Như vậy, do hậu quả của Vụ án Lệ Chi Viên, đã có những thông tin sai lạc cho đời sau về dòng dõi của Nguyễn Trãi. Ông không phải là cha Nguyễn Công Duẩn, không phải là ông nội của Nguyễn Đức Trung và không phải là tổ tiên của các Chúa Nguyễn. Nguyễn Trãi và dòng họ của ông không có quan hệ tới họ Nguyễn ở Gia Miêu.
  • Giả thuyết về họ Nguyễn Gia Miêu và họ Nguyễn Chi Ngại (hay Nhị Khê) cùng có tổ là Nguyễn Bặc vẫn còn những nghi vấn:
    • Truyền thuyết họ Nguyễn ở Chi Ngại quá xa, chưa hoàn toàn có tính xác thực để kết luận Nguyễn Trãi là dòng dõi Nguyễn Bặc.
    • Khoảng cách quá xa của các thế thứ họ Nguyễn khiến về vấn đề "dòng họ Nguyễn Gia Miêu là con cháu Nguyễn Bặc" còn những nghi vấn. Chính sử sách nhà Nguyễn không xác nhận họ Nguyễn Gia Miêu là con cháu Nguyễn Bặc. (Xem bài: Nguyễn BặcNguyễn Nộn.)

[sửa]Các tác phẩm văn thơ

Nguyễn Trãi để lại rất nhiều trước tác, cả bằng Hán văn và bằng chữ Nôm, song đã bị thất lạc sau Vụ án Lệ Chi Viên. Ông là một trong những tác giả thơ Nôm lớn của Việt Nam thời phong kiến, điển hình là tác phẩm Quốc âm thi tập.

Được biết đến nhiều nhất là Bình Ngô đại cáo được viết sau khi nghĩa quân Lam Sơn giành thắng lợi trong cuộc chiến chống quân Minh kéo dài 10 năm (14181427). Tác phẩm này đã thể hiện rõ ý chí độc lập, tự cường của dân tộc Việt cũng như việc lấy dân làm gốc với những câu như:

Dục Thúy Sơn (Ninh Bình)-Ngọn núi trong bài thơ cùng tên của Nguyễn Trãi
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Nước non bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập;
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương;
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có.

(trích theo bản dịch của Ngô Tất Tố)

Bình Ngô đại cáo được người đương thời rất thán phục, coi là "thiên cổ hùng văn".

Ngoài ra ông còn để lại nhiều tác phẩm khác như Quốc âm thi tậpỨc Trai thi tậpQuân trung từ mệnh tậpDư địa chíLam Sơn thực lục,Phú núi Chí LinhLam Sơn Vĩnh lăng thần đạo biNgọc Đường di cảo.

Tác phẩm Gia huấn ca được người đời truyền tụng và cho là của ông, nhưng hiện vẫn chưa có chứng cứ lịch sử xác đáng. Tác phẩm Quốc âm thi tập là tác phẩm viết bằng chữ Nôm đánh dấu sự phát triển mới của văn học Việt Nam

[sửa]Chú thích

  1. ^ Nguyễn Lương Bích, Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội 1973, lời nói đầu
  2. ^ Đinh Gia Khánh-Bùi Duy Tân-Mai Cao Chương, Văn học Việt Nam Thế kỉ 10 đến thế kỉ 18, tập 1, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1978, trang 338
  3. ^ Nguyễn Lương Bích, Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước, NXB Quân đội, Hà Nội 1973, trang 129
  4. ^ Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, trang 53
  5. ^ Đinh Gia Khánh-Bùi Duy Tân-Mai Cao Chương, Văn học Việt Nam thế kỉ 10 đến thế kỉ 18, tập 1, trang 340
  6. ^ Đời sau do khó khăn về kinh tế, tháng 8 lại gió bão nhiều, không thuận tiện cho việc tế tổ, họ chuyển ngày giỗ tổ sang ngày 21 tháng Giêng (ngày mất của Nguyễn Anh Vũ)
  7. ^ Lê Quý ĐônKiến văn tiểu lục, NXB Văn hóa thông tin, 2007, tr 309
  8. ^ Hà Nhiệm Đại, Khiếu vịnh tập, dẫn trong Quốc âm thi tập, bản phiên âm của NXB Văn Sử Địa, 1956, trang 16
  9. ^ Dương Bá Cung, Bình luận chư thuyết trong Ức Trai di tập, quyển 5
  10. ^ Dương Bá Cung, Tiên sinh sự trạng khảo trong Ức Trai di tập, quyển 5
  11. ^ Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, NXB Văn hóa thông tin, 2007, tr 308-309. Ý Lê Quý Đôn nói theo lời của Lão Tử, cho rằng Nguyễn Trãi có tài nhưng không biết thời thế không thuận lợi thì nên rút lui nên mới gặp họa
  12. ^ Nguyễn Năng Tĩnh, Tựa Ức Trai di tập của Dương Bá Cung
  13. ^ Phạm Văn Đồng, Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc, báo Nhân dân số 3099, ngày 19-9-1962
  14. ^ Nguyễn Lương Bích, trang 603
  15. %%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%

 

Make a Free Website with Yola.