GIẤC MƠ VÀ BỆNH TẬT
VÕ HIẾU NGHĨA
Theo giáo sư Pierre Passouant tại Đại học Y khoa
Có 3 loại giấc mơ có thể phân biệt được :
- Giấc mơ cùng lúc với các xung động bên ngoài. Thí dụ như bên ngoài có tiếng nổ, cùng lúc đó ta nằm mơ có thể thấy mình đang bị bể bánh xe, hay một người nào đó đang bắn súng… Điều này cũng giống như trường hợp nhà triết học Descartes, ông bị rệp cắn thực sự khi đang ngủ, cùng lúc đó ông nằm mơ thấy mình bị kiếm xuyên thủng người. Bạn có thể nhớ lại các trường hợp tương tự đã xảy ra cho chính bạn.
- Giấc mơ xảy ra ở những người bệnh.
- Giấc mơ nơi những người không bệnh tật gì cả, là loại giấc mơ có thể dùng để đoán điềm giải mộng.
Nơi những giấc mơ của người bệnh, theo FREUD, đó là sự tác động qua lại giữa Cơ thể bệnh - Tiềm thức – Não bộ. Thí dụ, người thiếu nữ ở tuổi phát dục, nhưng bị dồn nén sinh lý (refoulement sexuel), sự dồn nén này sẽ được đưa vài Tiềm thức cùng với tính e thẹn sinh lý nơi người nữ, sau cùng “xú báp an toàn” (soupape de sureté) sẽ được thể hiện qua giấc mơ, có thể là sinh lý đã được thoả mản.

· Đối với những người bị bệnh tim, yếu tim, thì thường một chấn động ngoại cảnh nhẹ, cũng có thể làm họ hoảng sợ, hết hồn, tim đập mạnh và nhanh. Trong giấc ngủ thì trái lại, khi có một cơn đột kích nhẹ ở tim, tim đập mạnh – qua tiềm thức rồi lên não bộ - họ sẽ nằm mơ thấy nguyên nhân gây ra sự hoảng sợ. Điều mà họ thường thấy là cháy nhà, lửa, khói, ma, những hình thù quái dị, những quái vật. Nói đến lửa thì mỗi nhà phân tâm học đều có mỗi ý kiến khác nhau. Bác sĩ Moreau de la Sarthe viết : Theo sự nhận xét của nhiều bác sĩ, chứng băng huyết bất thình lình, sau một thời kỳ tích huyết, nhiều khi báo trước bằng những giấc mơ thấy cháy nhà hay cảnh giết người có máu chảy. Các bác sĩ Mounier và Masselon cũng công nhận rằng khi bộ máy tuần hoàn bị trục trặc, thì người ta hay mơ thấy máu và lửa. Tuy nhiên theo nhà phân tâm học của thế kỷ - Freud- thì ông cho rằng lửa trong giấc mơ không bệnh tật, tượng trưng cho nghị lực tinh thần và ái tình. Sự liên quan giữa bệnh tim với giấc mơ thấy lửa, cũng đã được Đông y khẳng định qua thuyết ngủ hành : Tâm thuộc Hoả.
· Đối với những người bị bệnh Thận, theo Đông y thì Thận thuộc thủy, và trong giấc mơ của người yếu thận, họ sẽ thấy nước, bơi lội, chết đuối, gánh nặng, khối tảng đá lớn. Tuy nhiên đối với các giấc mơ của những không bệnh tật, thì nước chỉ sự phong phú thịnh vượng. Nhưng còn cần phải xem nước trong (tiền sạch) hay đục (tiền do ăn bẩn), nước đầy hay vơi.
· Đối với những người bị bệnh phổi, theo các nhà phân tâm học, các người bị bệnh này sẽ thường nằm mơ thấy biển rộng mênh mông, sóng vỗ ngất trời. Điều này được giải thích là phổi liên hệ tới không khí hít thở. Một lá phổi yếu sẽ khiến cho sự hít thở không thông suốt, khó thở, nghẹt thở, ngược hẳn với không khí trong lành thông suốt nơi bể rộng trời cao.
· Đối với những người bị bệnh gan, theo Đông y, gan thuộc mộc. Điều này cũng trùng hợp với những giấc mơ của người đau gan là Cây, gỗ, hoa, núi. Những người đau gan do uống rượu, thì gỗ, cây, hoa, thuộc thảo mộc, chính là những bà con của gốc rượu. Những người đau gan do ăn nhiều thịt mỡ động vật, thì giấc mơ tương phản gồm có thảo mộc, rau cải. Đó là những món ăn mà người bệnh cần phải bồi dưởng nhiều vào. Còn đối với những người đau gan nặng như xơ gan cổ chướng thì ở bụng cứng lên như quả núi vậy, và họ thấy núi là hợp lý.
Dấu hiệu báo trước căn bệnh bằng giấc mơ không phải là điều dị đoan, vô căn cứ, mà thực sự đã được giới y khoa, phân tâm học lý giải rõ ràng. Nhiều căn bệnh có triệu chứng rất lâu trước khi xảy ra như bệnh tê liệt. Nhiều bệnh nhân tê liệt kể rằng họ đã từng nằm mơ thấy bị tê liệt từ 3 đến 6 tháng trước khi căn bệnh thật sự xảy ra. Thật ra, tiền căn họ đã bị chứng cao huyết áp, mà đa số ít ý thức trước được. Có một số người bệnh cao huyết áp có dấu hiệu rõ ràng như nhức đầu, chóng mặt xây xẩm, mặt nóng đỏ bừng lên, nhưng cũng có lắm bệnh nhân không có các triệu chứng tiền báo. Thế rồi, chứng cao huyết áp tiến triển đến một lúc phát sinh tai biến mạch máu não và di chứng bại liệt nửa người. Như vậy, sự kiện được giải thích là ý thức không biết được, nhưng cơ thể đã biết rất rõ, và truyền tín hiệu vào tiềm thức, rồi được tiềm thức đưa vào giấc mơ.
Tương tự, phổi và tim cũng có những triệu chứng báo trước từ lâu như : trở trời lạnh hay ho, đổ mồ hôi trộm, hoặc như một cơn nhói ngực thoáng qua, đang ngồi vụt đứng lên thì bị xây xẩm…
Ý thức ta có thể không biết, nhưng cơ thể thì nắm rất vững vấn đề, truyền lên tiềm thức, nằm ẩn ở đó, rồi lâu lâu lại đưa vào một hai giấc mộng báo trước.
VÕ HIẾU NGHĨA
Đt di động : 0983.983097 + nhà : 3835.6227, 38392251
http://vohieunghia.synthasite.com/
83 & 85 Đường số 3, Cư xá Đô thành, P4, Q.3, Tp.HCM.
TRỊ BỆNH BẰNG ĐỒNG
VÕ HIẾU NGHĨA
Đồng ở đây không có nghĩa là đồng tiền, đồng Đô la, hay đồng Euro, mặc dù chúng cũng đã chữa trị được khá nhiều bệnh rồi. Đồng này là kim loại đồng có ký hiệu hoá học là Cu = 63,6, nằm trong Bảng Phân loại Tuần Hoàn Mendeleev.
Một cơ thể của người trung niên có thể chứa khoảng 100-200 mg đồng, và nhu cầu mỗi ngày phải thu thêm khoảng 5 mg nữa. Nhiều người đã không biết được rằng những cơn nhức đầu dai dẳng, những mệt mỏi vô cớ, sự xuống tinh thần, đều có thể được chữa trị bằng uống một chút hợp chất đồng (không phải là kẹo đồng đâu nhé) chứa trong thực vật hoặc thuốc. Ngoài ra các khẩu phần ăn của những người bị bệnh dạ dày, tá tràng mãn tính, hoặc những người ăn kiêng (để ốm đi), thường thiếu chất đồng, do đó cơ thể họ đã phải tiêu xài tất cả số lượng đồng dự trữ sẵn. Hậu quả là số lượng hồng huyết cầu bị giảm sút, bị triệt sản, thiếu máu cơ tim, loạn nhịp tim, các rối loạn tâm thần và thần kinh, suy yếu các lực kháng viêm và nhiều chứng bệnh khác nữa (xem thí nghiệm ở phần sau).

Các thức ăn chứa nhiều đồng
Từ hiểu biết về các hậu quả tai hại trên, ta có bổn phận phải bảo toàn yếu tố sinh hoá quí giá này trong cơ thể. Con đường đơn giản nhất để bù trù sự hao hụt này là bằng thức ăn. Vài thức ăn như gạo, sữa chứa rải rác một số lượng đồng. Mặt khác, gan bò, đậu apricot, đậu lenti, lúa, kiều mạch, lúa mạch, củ cải tía, dưa hấu, đậu xanh, phúc bồn tử, dương đào, mận hoang, táo dại, dâu tây, dâu rừng, trái ngấy, trái nham lê, cũng chứa đồng khá nhiều. Một vài loại cỏ cũng có chứa đồng như cây ngải hương, cỏ John, cỏ thi, cây ngạc ba và cây kinh giới, mỗi cây có thể chứa từ 0,1 đến 0,35 mg đồng.
Tính chất trị liệu của đồng
Dược tính của kim loại này đã được biết từ thời cổ Ấn độ, người ta đã thử trị các bệnh về mắt và ngoài da bằng đồng đã luyện.
Aristote thường đi ngủ với một quả cầu nhỏ bằng đồng cầm trong tay. Những y sĩ cổ đông phương, từng khuyên bảo nên chữa trị chứng gãy xương bằng cách lấy bột đồng thấm ướt với sữa và nước, lau rửa và bó nơi chỗ gãy. Cho tới nay, người Ai cập và Syrie hãy còn giữ tục lệ đeo các vòng kiềng bằng đồng ở cổ tay và cổ chân ở các trẻ sơ sinh cho đến lúc mọc răng. Ở nước ta, du khách nào đã từng đi lên Dalat, khi về mà không mang theo (một cành hoa!) một vài vòng đeo tay bằng đồng do các đồng bào Thượng chạm khắc đẹp đẽ, dùng làm quà tặng bạn bè đeo cho vui, hoặc theo đồng bào Thượng là để trừ tà, đuổi quỷ và ngừa bách bệnh. Những thống kê y học cho thấy rằng, ngay trong thời kỳ dịch tả bộc phát mạnh mẽ, cơn dịch cũng không hề đụng chạm gì tới các người thợ đúc đồng.
Hơn 50 năm trước, tại Đại học Wisconsin Mỹ, các thú vật dùng để thí nghiệm, lần lượt bị suy yếu, mặc dù chúng vẫn được nuôi bằng sữa. Người ta đã biết rằng sữa rất nghèo chất sắt, mà sắt là một yếu tố quyết định để cấu thành các hồng cầu. Thế là người ta thêm chất sắt vào thức ăn của những con thú này. Kết quả là chứng suy nhược vẫn còn. Nhưng khi thức ăn được trộn thêm một hợp chất của đồng, chứng suy nhược lập tức tan biến một cách nhanh chóng. Người ta đã khám phá thấy rằng, đồng rất cần thiết trong sự hình thành các hồng cầu, dù nó không phải là một thành phần có trong phân tử hồng cầu.
Tóm lại, từ xưa đồng đã được áp dụng để trị liệu một cách rộng rãi và đa dạng bởi các y sĩ trên khắp thế giới. Nhưng bẳng đi một thời gian, người ta ngày càng ít nhớ đến dược tính chữa bệnh của đồng. Tuy nhiên hãy còn một dược tính duy nhất có thể vẫn chưa bị lãng quên, đó là cách bó bột đồng tán nhuyễn đặt lên nơi bị đau, và cơn đau sẽ biến mất ngay.
Các nghiên cứu đã chứng tỏ rằng, trong khi chuyển hoá để trở thành một yếu tố sinh hoá, đồng có thể trị liệu hiệu quả các chứng bệnh : đau lưng, viêm đa khớp, viêm cơ, vết thương làm mủ lâu ngày, bệnh sưng yết hầu (quinsy). Những kết quả trị bệnh hữu hiệu, đã mở ra một hướng đi mới trong cách áp dụng kim loại liệu pháp : Người ta dùng các đĩa tròn có đường kính từ 1 đến 7 mm, dày từ 1-3 mm. Để đạt được kết quả tốt hơn, các đĩa đồng trước hết được nung trong lửa, sau đó nhứng vào nước lạnh rồi lau chùi bằng giấy nhám. Phương thức này được áp dụng trước mỗi lần điều trị.
Những đĩa đồng này được đặt trên da, ngay chỗ đau trong khoảng từ 6 đến 48 tiếng đồng hồ và được giữ nguyên bằng cuộn băng vải hoặc băng keo. Thời gian trị liệu tuỳ vào tính chất bệnh mà có thể kéo dài từ 3 đến 20 ngày. Thỉnh thoảng, chúng ta có thể gặp trường hợp đĩa đồng di chuyển, dù đã được băng dính tại chỗ đau. Điều này được giải thích, đó là do sự khác biệt của trường sinh điện ở mỗi người.
Theo nhận xét của bác sĩ Fédor Romachov ở MatXcơva, dựa trên 760 bệnh nhân đủ các loại bệnh, thì sự áp dụng các đĩa đồng, đã có hiệu quả trong việc chống đau nhức, chữa các chứng viêm và chứng phù.
Mỗi lúc chúng ta phải mệt mỏi vì lo toan, chạy vạy để kiếm ra ĐỒNG tiền, thì chúng ta hãy nhớ đến ĐỒNG liệu pháp để giúp chúng ta hồi phục, ăn ngon, ngủ yên. Để rồi hôm sau lại đi kiếm ĐỒNG TIỀN mệt mõi… rồi lại phục hồi nhờ ĐỒNG LIỆU PHÁP… cuộc đời cứ thế mà xoay vòng y như anh chàng Sisyphe (Mythe de Sisyphe, Albert Camus) cứ khuân đá lên núi, rồi lại bị cho lăn xuống núi, rồi lại khuân lên núi… Cũng giống “như từng viên đá cuội, rớt vào lòng biển khơi…” của nhạc sĩ đáng yêu Trịnh Công Sơn vậy.
VÕ HIẾU NGHĨA
Đt di động : 0983.983097 + nhà : 3835.6227, 38392251
http://vohieunghia.synthasite.com/
83 & 85 Đường số 3, Cư xá Đô thành, P4, Q.3, Tp.HCM
Báo TUỔI
TRẺ - Thứ năm 22/06/1995
ĐÁNH ĐÀN BẰNG BÀN PHÍM MÁY VI
TÍNH
VÕ HIẾU
NGHĨA
Thuật ngữ
Multimedia có nghĩa là nhiều phương tiện trung gian, gọi gọn là “đa phương tiện”.
Trong Tin học, máy in có thể được xem là vật trung gian giữa máy vi tính (MVT) và
trang in. Tương tự, loa, âm thanh là vật trung gian giữa MVT và âm phát ra từ
loa… Bộ đa phương tiện thường được dung trong nghĩa hẹp gồm ổ đĩa CD-ROM và mạch
âm thanh (sound card).
Xin giới
thiệu một trong các ứng dụng của mạch âm thanh là đàn các nhạc cụ bằng bàn phím
MVT.
Khi bạn đã lắp đặt mạch âm thanh vào MVT, và cài đặt phần mềm âm thanh Sound Blaster 16.

·
Bước
1 : Điều chỉnh cường độ âm thanh.
1/ Từ dấu nhắc DOS,
vào chương trình Quick CD trong thư mục SB16.
2/ Khung điều khiển
Quick CD xuất hiện :
-
Dùng
chuột kích nút hai mũi tên lên (trái ứng với loa trái, phải ứng với loa phải-
hai loa này được bán kèm theo bộ đa phương tiện). Ngầm định là 2-2, bạn có thể
kích lên tối đa 4-4 hay 8-8 tuỳ máy.
-
Dùng
chuột lần lượt kích rê mạch âm chủ (master- có hình tam giác), mạch giọng cao
(treble- có hình khoá nhạc Sol), mạch giọng trầm (bass- có hình khoá nhạc Fa)
lên cao tối đa.
3/
Kích nút ở góc trái để thoát ra.
Chú
ý : Bạn có thể dung bộ ampli-Loa bên ngoài để có âm thanh tuyệt hảo hơn bằng
cách gắn nút cắm ampli-loa vào ổ cắm [Line Out] của mạch âm thanh, và chỉnh âm
trên bộ ampli.
·
Bước
2 : Vào chương trình đàn trên MVT.
1/ Từ dấu nhắc DOS của
thư mục gốc C:, chuyển đến thư mục SB16\PRO-ORG:
CD\SB16\PRO-ORG + bấm <Enter>.
Khi đó trình
“Intelligent Organ” được khởi hoạt. Màn hình đàn Organ chứa 4 bát trình (4
Octaves) xuất hiện.
2/ Bấm phím
<F2>, màn hình mô tả các phương thức chơi đàn.
·
Bước
3 : Đàn một bản nhạc, thí dụ “Bésame mucho” ở cung Ré thứ (D minor), nhịp điệu
Rumba.
a/ Bấm <Tab> để
chuyển từ phương thức khối 4 bát trình không có các nốt thăng giáng, sang phương
thức khối 2 bát trình với đầy đủ các nốt thăng giáng như sau :
- Phím : 2
3 5 6
7
- Ứng với các nốt nhạc
: Do# Re#
Fa# Sol# La#
- Phím : Q
W E R T
Y U
- Ứng với các nốt nhạc
: Do Re
Mi Fa Sol
La Si
- Phím : S
D G H
J
- Ứng với các nốt nhạc
: Do# Re#
Fa# Sol# La#
- Phím : Z
X C V
B N M
, . /
- Ứng với các nốt nhạc
: Do Re
Mi Fa Sol La Si
Do Ré Mi
b/ Thay đổi cường độ
: Bấm phím <Home> để tăng hay <End> để giảm cường độ.
c/ Thay đổi nhạc cụ :
Intelligent Organ cung cấp đến 20 âm thanh nhạcx cụ. Bạn có thể chọn bằng cách
: Bấm phím :
F1 F2 F3
F4
Lần 1 Piano Organ1 Violin
Synthesizer1
Lần 2 Harp Trumpet Oboe Bass Synth
Lần 3 E. Guitar Saxophone Flute Sitar
Lần 4 Marimba Trombone Harmonica Javaican
Lần 5 Allen Mars Clarinet Bells
d/ Chọn nhịp điệu cho nhạc
đệm : Bấm phím
F5 F6 F7 F8
Lần 1 March Rumba Swing Waltz
Lần 2 March1 Samba Swing1 Waltz1
Lần 3 March2 Bosanova Rock&Roll Waltz2
Lần 4 March6/8 Tango Disco Jazz Waltz
e/ Để Mở/Tắt nhạc đệm :
bấm <SpaceBar>.
f/ Để thay đổi cường độ đệm
nhạc (Volume) :
-
Bấm
<PageUP] hay phím <Mũi tên lên> để tăng cường độ.
-
Bấm
<PageDown] hay phím <Mũi tên xuống> để giảm cường độ.
g/
Để thay đổi nhịp độ (tempo) nhạc đệm : Bấm <INS> để tăng, hoặc
<DEL> để giảm nhịp độ.
h/
Để chuyển đổi qua lại các hợp âm trưởng, thứ (Major, Minor chords) :
-
Từ
hợp âm trưởng sang thứ : bấm <F10>.
-
Từ
hợp âm thứ sang trường : bấm <F9>.
i/
Bắt đầu đàn :
Besame, besame mucho; Each time I
cling to your kiss I hear music divine ….
X XX XCV
NB B
B B N N
N J
J J L
. / N
·
Bước
4 : Lưu giữ và chạy lại một bản nhạc.
Intelligent
Organ tự động lưu giữ tất cả những gì bạn đánh nhạc vào bộ nhớ đệm. Tác vụ lưu
giữ bắt đầu từ khi bạn bấm <F2> để vào chế độ chơi đàn cho đến khi bạn bấm
<ESC> để trở về màn hình chính. Nó thu âm ngay cả khi bạn không đánh nhạc
và coi đó là quảng lặng nghỉ.
a/ Để chạy lại bản nhạc chứa trong bộ
nhớ đệm :
-
Bấm
<Esc> để trở về màn hình chính.
-
Bấm
<F4>, khung điều khiển tái xuất hiện và Intelligent Organ sẽ chạy lại bản
nhạc đã chứa trong bộ nhớ đệm cho đến khi bạn bấm <ESC> để thoát.
b/
Để lưu giữ bản nhạc trong bộ nhớ đệm :
-
Bấm
<Esc> để trở về màn hình chính.
-
Bấm
<F7>, thông báo sau sẽ xuất hiện :”Enter Organ file to save”
-
Đánh
vào tên muốn gán cho tập tin để lưu giữ, bấm <Enter>.
·
Bước
5 : Thoát khỏi Intelligent Organ :
Bấm <F8> : More
+ bấm <F4> -Quit.
Thông báo sau đây sẽ
xuất hiện :”Exit to DOS (Y/N)?”. Bấm phím <Y> để thoát Intelligent Organ
và trở về DOS.
VÕ HIẾU NGHĨA
GIẤC NGỦ
VÕ HIẾU NGHĨA
Nếu có người nói với bạn rằng, bạn đã không biết, không hiểu, thậm chí không ý thức được một phần ba cuộc đời mà bạn đã sống qua, có lẽ bạn sẽ ngạc nhiên tự hỏi : “Cuộc đời của chính tôi ư? Sao tôi lại không biết?”.
GIẤC NGỦ cũng như HẠNH PHÚC, ta chỉ ý thức, nghỉ đến nó, khi ta đã bị mất nó đi.- Bạn đã ngủ bình thường 8 giờ mỗi ngày, tức là 1/3 ngày và cũng là 1/3 cuộc đời. Nhưng bạn ít để ý đến nó lắm, chỉ khi nào bạn bị chứng mất ngủ, bạn mới thấy nó là cần, là quý báu, phải không bạn?
Và vì thế chúng ta hãy tìm hiểu về Giấc ngủ vậy.
VỀ GIẤC NGỦ
Giấc ngủ bình thường của người lớn kéo dài khoảng 8 giờ, nó gồm 2 trạng thái rất khác nhau (theo nghiên cứu của GS Bác sĩ Passouant):
- Trạng thái ngủ bình thường hay ngủ chậm (tương ứng với những sóng chậm trên điện não đồ, được chia làm 4 mức độ sâu cạn khác nhau I, II, III, IV).
- Trạng thái ngủ nhanh hay nghịch thường (gần với vùng thức trên điện não đồ), thường gồm có những hơi thở ngắn, chuyển động mắt nhanh chóng, những rung động cơ bắp ớ mặt, ở ngón tay hay ngón chân. Những biểu hiện này thường liên quan tới những hoạt động trong giấc mơ (giấc mơ thường xảy ra trong giai đoạn này). Ngoài ra, không còn có những co rút cơ bắp; nhịp thở cũng như nhịp đập của tim không bình thường và dương vật thường cương cứng lên (các bạn nam phái sẽ dễ dàng kiểm nghiệm được tình trạng này).
Hai trạng thái này luân phiên nhau trong suốt giấc ngủ và tạo ra nhiều giai đoạn khác nhau.
- Trong nửa giấc ngủ trước (4 tiếng) gồm 2 giai đoạn đầu, có giấc ngủ sâu nhất (mức độ III, IV).
- Trạng thái giấc ngủ chậm chiếm 75% (tức ¾) thời gian ngủ, gồm có 5%mức độ I, 50% mức độ II, và 20% mức độ III, IV.
- Trạng thái giấc ngủ nhanh chiếm 25% (tức 1/4) thời gian ngủ vào khoảng 2 tiếng.
- Như vậy, bạn đã có thể nằm mơ sau khi ngủ độ hơn 1 tiếng, và trước khi thức dậy khoảng nửa tiếng.

CHỨNG MẤT NGỦ
Có người ngủ 8 giờ mỗi ngày, người thì 6, 7, 9, 10 giờ mỗi ngày. Vì 2 giai đoạn cuối có sơ đồ giống nhau, nên các bạn công nhân viên hay người tập thể dục buổi sáng, có thể chỉ ngủ 6 tiếng ứng với 3 giai đoạn đầu. Tuy nhiên nếu chỉ ngủ từ 3-5 giờ mỗi ngày, thì đã có thể cho là bị chứng mất ngủ rồi. Nhưng nếu sự thiếu ngủ này không ảnh hưởng gì đến việc làm ban ngày, chứng này được gọi là chứng mất ngủ nhẹ.
Chứng mất ngủ rất thường gặp. Những lo nghĩ hàng ngày trong cuộc sống căng thẳng cũng đủ làm cho chúng ta nhiều lần bị mất ngủ.
Người ta không cọi việc mất ngủ là một bệnh mà chỉ là một triệu chứng do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra. Chứng mất ngủ thường được chia ra thành 2 loại : chứng mất ngủ thứ phát và chứng mất ngủ thông thường.
Chứng mất ngủ thứ phát : là hậu quả của một căn bệnh gốc đã có sẵn trong người như : những viêm nhiễm, đau đớn, hô hấp khó khăn, một số xáo trộn tiêu hoá, sự bất thường của hệ nội tiết v.v…
Chứng mất ngủ thông thường : Nguyên nhân khởi đầu và kéo dài của chứng mất ngủ thông thường có thể do một cú sốc tâm lý, tình cãm, do một thay đổi nhịp sinh học ngày đêm (làm ca đêm, làm 3 ca luân phiên…), hoặc do dùng liên tục quá nhiều thuốc ngủ. Ngoài ra còn phải kể đến yếu tố di truyền của những gia đình mất ngủ. Chứng này thường xuất hiện ở phụ nữ hơn là đàn ông, do các nguyên nhân tâm lý, ảnh hưởng nội tiết ở thời kỳ rụng trứng và nhất là tới tuổi dứt kinh.
- Sự không nhận thức được thời gian ngủ được của những người bị chứng mất ngủ. Có khi giấc ngủ thực sự đã xảy ra từ 2 giờ đến 4 giờ, nhưng họ nghỉ là họ vẫn thức và bị chứng mất ngủ.
- Sự dỗ giấc ngủ khó, thường thức giấc ban đêm và dậy sớm ở những người bị chứng mất ngủ. Những giấc ngủ sâu mức độ III và IV và giấc ngủ nghịch thường, hiếm thấy nơi những bệnh nhân mất ngủ. Trong khi chỉ trong những giấc ngủ này, cơ thể mới tiết ra những nội tiết tố tăng trưởng GH (Growth Hormone), đó là những nội tiết tố rất hữu ích, làm phục hồi sức lực và làm mất đi những cơn nhọc mệt ban ngày.
- Những cơn ngừng thở (Apnea): Hô hấp chậm đi trong giấc ngủ sâu và bất thường trong giấc ngủ nghịch thường. Đôi khi những bất thường này dẫn đến sự ngừng thở khoảng dưới 10 giây. Nơi những người mất ngủ, cơn ngừng thở này có thể kéo dài đến vài chục giây. Những cơn ngưng thở lặp đi lặp lại nhiều lần, có thể dẫn tới tình trạng thiếu dưỡng khí mãn tính, và là nguyên nhân gây ra các bệnh tim mạch và bệnh huyết áp động mạch cao.
- Triệu chứng chân như bị kiến bò ở những người bị chứng mất ngủ : Triệu chứng này có thể được chặn trước bằng chất dịch Serotonine 5-HTP.

ĐI TÌM MỘT THUỐC NGỦ VÔ HẠI
Tại sao chúng ta phải ngủ? Đã từ lâu người ta nghĩ rằng điều này là do sự tích luỹ và phân giải của một vài hoạt chất trong con người.
Vào thế kỷ trước, nhà sinh học Pháp M. Piéron xây dựng lý thuyết về “chất gây ngủ” dựa trên trực giác hơn là trên thực chất. Khoảng 20 năm trở lại đây, chúng lại được khơi dậy bởi nhà bác học Mỹ J. Pappenheimer khi ông nghiên cứu về sinh lý hô hấp.
Mô hình thực nghiệm của ông rất đơn giản : ngay khi con dê- vật thí nghiệm, vừa chớm cơn buồn ngủ và hạ thấp đầu xuống để ngủ, ông liền dí một luồng điện nhẹ vào đuôi của nó, làm nó tỉnh lại. Phương cách này được lặp đi lặp lại trong vòng 24 tiếng đồng hồ, và ông trích ra được một chất dịch ở não tuỷ của con dê này. Khi đem tiêm vào những con chuột, chất dịch này đã làm giảm các vận động của chúng. Kết quả trên đã khích động nhà bác học rất nhiều, đến nỗi ông bỏ cả các nghiên cứu cũ để đi tìm cho được “chất truyền đạt giấc ngủ”.
Ông và các cộng tác viên đã bỏ ra rất nhiều công sức vào việc tìm tòi này. Trong 4 năm, họ đã thu được 5 lít dịch tuỷ sống từ những con dê bị tước đoạt giấc ngủ, và họ đã khám phá ra rằng chất này chính là một PEPTIDE. Người ta đã tìm được các Peptid đau, peptid nhớ, peptid khoái lạc, vậy tại sao lại không có peptide ngủ?
Kết quả thu lượm được rất là phấn khởi : những con thỏ thường ngủ 9 tiếng rưỡi mỗi ngày đêm, và khi dưới ảnh hưởng của chất peptide ngủ của Pappenheimer, chúng ngủ từ 14 tiếng rưỡi đến 16 tiếng rưỡi mỗi ngày đêm. Và giấc ngủ của chúng vẫn bình thường.
Các nhà bác học cũng khám phá thêm rằng hợp chất này, rất ổn định và không bị phá huỷ trong nước tiểu. Nguồn vô tận về nội tiết tố ngủ này, đã thúc đẩy mạnh mẽ công việc tìm tòi. Trong 5 năm sau, các nhà khoa học đã thu được 3 tấn nước tiểu và thực hiện 1000 thí nghiệm trên 200 con thỏ. Vào năm 1981, một trong các cộng tác viên của Pappenheimer đã chứng tỏ được rằng ½ lit nước tiểu ở người đã chứa đủ hoạt chất (nội tiết tố ngủ) để làm cho những con mèo ngủ được thêm 2 giờ (cộng với giờ ngủ thông thường).
Việc làm của những nhà nghiên cứu Mỹ đã kích thích một nhóm nghiên cứu Nhật chạy theo tìm cho ra một nội tiết tố ngủ (Sleep Hormone). Họ thí nghiệm trên những con chuột đã bị tước đoạt giấc ngủ bởi sự kích điện lặp lại nhiều lần trong 24 giờ, và chúng đã tiết ra một chất hoạt tính từ trong não bộ của chúng. Để đạt được kết quả, họ phải dùng 1000 con vật, và họ đã tìm được một hoạt chất có đủ những tính chất cần thiết để tạo giấc ngủ, chất này được cô lập, nhưng cấu tạo của chúng vẫn chưa được phân tích.
Tuy nhiên, liệu những kích thích điện trên con vật thí nghiệm có ảnh hưởng gì đến kết quả cuối cùng hay không ? và hoạt chất trích lấy được có phải đúng là chất muốn tìm hay không ?
Câu hỏi này đã gợi tính hiếu kỳ của nhà sinh học Thuỵ sĩ Marcel Monnier. Nhưng ông đã tự lựa chọn một hướng đi khác, dựa trên một công trình cổ điển của đồng bào của ông là Watter Mess, người đã được giải Nobel, và đã chứng tỏ từ 1940 là một kích thích điện lên não bộ có thể làm cho những con mèo ngủ thiếp đi. Monnier muốn tìm hiểu những kích thích điện gây giấc ngủ có liên quan đến việc hình thành một vài hoạt chất trong máu không?
Ông dùng nhiều cặp thỏ đã được nối thông các mạch tuần hoàn lại với nhau, và ông đã nhận thấy rằng khi kích thích trung tâm ngủ của một con thỏ này, thì con thỏ kia có dấu hiệu mơ màng rồi ngủ. 15 năm tìm tòi đã đưa ông tới kết quả là đã cô lập được một chất gọi là DSIP (Delta Sleep Inducing Peptid : Peptid gây giấc ngủ sâu). Chất này hoàn toàn khác với chất Peptid ngủ của các nhà bác học Mỹ và Nhật.
Sau đó, chất DSIP đã chứng tỏ sự hữu hiệu khi được tiêm vào những con mèo, chuột và ngay cả con người. Kể từ đó, những hãng chuyên về tổng hợp các hợp chất Protein đã thương mại hoá chất này.
Ở Liên xô cũ, chất DSIP cũng như một số hoá chất tương tự đã được tổng hợp bởi Phòng Thí nghiệm về Hoá chất Peptid của Viện Sinh Hoá hữu cơ ở Matxcơva và Phòng Hoá học các Hợp chất tự nhiên của Đại học Leningrad. Tiến sĩ Kovalzol và cộng tác viên Vladimir Tsibulsky đã tiến hành thử nghiệm chất DSIP. Lúc đầu mọi việc xảy ra đúng như mong đợi, chất Peptid với lượng nhỏ đã biểu hiện đúng đặc tính của chúng và diễn biến thật hoàn hảo. Nhưng khi họ tăng lượng DSIP, thì giấc ngủ lại biến mất. Kết quả này cũng giống như kết quả của 2 nhóm nghiên cứu khác, một của Thuỵ điển và một của Mỹ.
Ở Hội nghị nghiên cứu về giấc ngủ tổ chức tại Âu châu lần thứ 6 (
Tuy vậy, người ta cũng đã thu lượm được trên thực tế, những dữ liệu chứng tỏ rằng các chất đồng phân với DSIP có những biểu hiện hoạt tính của một thuốc ngủ thật sự. Những tài liệu tương tự, nhưng với chất đồng phân khác cũng đã thu đạt được bởi nhóm nghiên cứu Thụy điển do nhà sinh hoá học G. Schoneuberger. Cuộc nghiên cứu hãy còn đang tiếp tục.
Trong khi chờ đợi sự tìm được một thuốc ngủ vô hại, những bệnh nhân mất ngủ hiện nay phải dùng những thuốc ngủ thường có hại như Valium, Librium, Barbiturat…do tác dụng ngoại ý của chúng như nôn mửa, suy giảm lượng Prothrombine trầm trọng, tác kích các niêm dịch gây viêm dạ dày, làm run rẩy và gây ảo giác, co giật cơ bắp, giảm trí nhớ….
HÃY TỰ CHỮA CHỨNG MẤT NGỦ
Khi bị chứng mất ngủ bạn hãy nhớ kỹ và thực hiện 12 điều sau đây :
1/ Tránh dùng trà, cà phê hay các thức uống có pha cà phê.
2/ Không nên dùng thuốc ngủ, sự hiệu nghiệm của nó chỉ có tính tạm thời, nhưng lại gây ra nhiều hậu quả tai hại và lâu dài. (Dĩ nhiên là trừ các trường hợp bị chấn thương, giải phẩu… và dùng với sự chỉ dẫn của bác sĩ).
3/ Nếu ít hoạt động tay chân khi làm việc (văn phòng, máy tính…), nên tập thêm thể dục ngoài trời. Bạn có thể tập dưỡng sinh, Thái cực quyền, thể dục nhịp điệu (Aerobic), khiêu vũ (Be-bop, Rock, Chachacha….).
4/ Hít thở mỗi ngày, ít ra là 3 lần. Nên tập hít thở dài và sâu. Bạn hít vào thật sâu, thật nhiều, rồi thở ra cho thật hết hơi. Rồi cứ thế mà tiếp tục, khoảng 4, 5 đợt hít thở là đủ (Dĩ nhiên nếu bạn biết Thiền, Yoga, Nội công, Khí công càng tốt).
5/ Mỗi buổi sáng tắm tia nước xen kẻ nóng và lạnh. Mỗi tuần lễ thực hiện một lần như sau : chà sát bằng muối ướt, rồi tắm lại bằng tia nước.
6/ Ăn : Bữa ăn tối nhẹ và sau bữa ăn thật lâu mới đi ngủ.
7/ Thức uống : Trước khi đi ngủ uống một ly sữa nóng hoặc một ly chè sen.
8/ Ngâm chân bằng nước nóng trước khi đi ngủ.
9/ Dọn giường ngủ thật tiện nghi, thoải mái.
10/ Trong những trường hợp nặng, sau khi ngâm chân bằng nước nóng, nên tắm thêm bằng nước ấm lúc gần đi ngủ (đừng để ướt đầu tóc).
11/ Day ấn huyệt : Trên 2 đầu lông mày khoảng 1 cm, có 2 huyệt ngủ (diện chẩn). Dùng đầu 2 ngón trỏ day và ấn trên 2 huyệt này chừng vài ba lần sẽ cãm thấy cơn buồn ngủ kéo đến.
12/ Để tư tưởng thoải mái, toàn thân thư giản. Bạn đừng lo ngại khi thấy phải nằm lâu mà chưa ngủ được. Càng nghĩ đến chứng mất ngủ thì lại càng dễ bị mất ngủ. Bạn hãy hướng tư tưởng của bạn vào việc theo dõi hơi thở đều đặn. Toàn thân như trống rỗng, buông lỏng, thư giản.
Tóm lại, bạn hãy vận động, hãy sống theo nhịp điệu sinh học tự nhiên, nên đi ngủ theo những cách thức và giờ giấc thường lệ. Nếu tất cả những cách chữa trên vẫn không hiệu nghiệm, nên đến các y sĩ, nhất là những nhà châm cứu (dùng kim riêng), họ sẽ giải quyết thoả đáng giùm bạn. Vì châm cứu là loại thuốc ngủ vô hại duy nhất.
Xin chúc các bạn một giấc ngủ ngon lành.
VÕ HIẾU NGHĨA
Đt di động : 0983.983097 + nhà : 3835.6227, 38392251
http://vohieunghia.synthasite.com/
83 & 85 Đường số 3, Cư xá Đô thành, P4, Q.3, Tp.HCM